Văn hóaVăn hóa cổ truyền

TỔ CHỨC KHÔNG GIAN NHÀ Ở THỊ DÂN THỜI KỲ PHÁP THUỘC Ở HÀ NỘI

Cập nhật: 17/01/2018

Thời kỳ người Pháp chính thức xâm lược Việt Nam kéo dài hơn 60 năm (1884-1945), tại Hà Nội là hơn 50 năm, đây là thời kỳ đầy đau thương và bi tráng của dân tộc, do phải hứng chịu sự cai trị tàn bạo của thực dân Pháp. Tuy vậy người Pháp cũng để lại một số dấu ấn của văn hóa khá đặc trưng, tiêu biểu là nghệ thuật kiến trúc và tổ chức không gian sinh hoạt của các công trình kiến trúc công sở, dinh thự và nhà ở của người dân thành thị tại Hà Nội. Cuối TK XIX đầu TK XX khi Hà Nội chính thức chịu sự quản lý của người Pháp họ đã bắt tay vào xây dựng một số công trình kiến trúc tiêu biểu như: các tòa nhà hành chính, rạp hát... và đặc biệt nhất là khu dân cư dành cho tầng lớp thị dân tại khu vực 36 phố phường (chủ yếu nằm trong các quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa ngày nay).

TỤC THỜ THIÊN HẬU Ở DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ

Cập nhật: 17/01/2018

Tín ngưỡng thờ bà Thiên Hậu (còn gọi là Mã Châu, Thiên Phi...) xuất phát từ Phúc Kiến, Trung Quốc, theo bước chân di trú của những người Hoa Nam đã lan tỏa đi nhiều nơi, trong đó có Nam Bộ nước ta. Trên con đường mưu sinh, người Hoa tin tưởng sự hiển linh của bà đã giúp họ vượt qua được mọi trở ngại để an cư lạc nghiệp. Để tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự phù trợ đó, họ đã kiến tạo nên các ngôi miếu thờ phụng bà.

VỀ TƯ TƯỞNG THÂN DÂN THỜI THỊNH TRẦN

Cập nhật: 16/01/2018

Tư tưởng về một nền chính trị nhân nghĩa, thân dân là giá trị đặc thù nhất và quý giá nhất trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam, thường xuyên chi phối sự phát triển của dân tộc, đóng góp tích cực vào công cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do, chống áp bức bóc lột và tiến bộ xã hội của nhân dân ta. Tư tưởng thân dân đã trở thành chuẩn mực để người dân Việt Nam đánh giá về một nền chính trị.

LỄ CẤP SẮC 12 ĐÈN CỦA NHÓM DAO TIỀN KHĂN TRẮNG Ở BẮC CẠN, CAO BẰNG

Cập nhật: 02/01/2018

Cấp sắc là nghi lễ mang dấu ấn văn hóa đặc trưng của người Dao, có ba cấp bậc để thực hành là 3 đèn, 7 đèn, 12 đèn. Tùy từng nhóm Dao mà các cấp độ này có thể được thực hiện riêng biệt hoặc tổ chức gộp trong cùng một thời điểm. Tuy nhiên, các nghiên cứu về lễ cấp sắc 12 đèn trong đời sống văn hóa của người Dao còn thiếu, lý do là: tần số tổ chức nghi lễ trong đời sống của nhóm Dao tiền thường kéo dài trong khoảng 30 năm/lần, do tính phức tạp của nghi lễ, quá trình chuẩn bị, trai giới… nên không phải tất cả các dòng họ cư trú ở khu vực hai huyện Ngân Sơn (Bắc Cạn), Nguyên Bình (Cao Bằng) đều có thể đủ điều kiện kinh tế, sự thống nhất để chuẩn bị. Ngoài ra, trong quá trình tổ chức nghi lễ, những người ngoài dòng họ không được phép tham dự, quan sát… Những lý do trên đã khiến cho quá trình nghiên cứu về lễ cấp sắc 12 đèn ở Việt Nam hiện nay gần như là vấn đề còn rất mới.

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐẠO CÔNG GIÁO VÀ TIN LÀNH CỦA NGƯỜI MÔNG VÙNG NÚI PHÍA BẮC

Cập nhật: 02/01/2018

Dân tộc Mông có 1.068.189 người (chiếm 1,24% dân số cả nước), xếp thứ 5 trong số các dân tộc ít người có dân số đông nhất Việt Nam. Đồng bào cư trú đông nhất là các tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, dọc theo biên giới Việt - Trung, Việt - Lào. Họ có dân số theo tôn giáo đứng đầu các dân tộc ít người ở khu vực miền núi phía Bắc, chiếm tới 19,7% tộc người, ước khoảng 200.000 tín đồ. Có 2 tôn giáo ảnh hưởng lớn đến dân tộc Mông là công giáo, tin lành. Công giáo xuất hiện sớm nhất, gắn với thời điểm thành lập giáo xứ Sapa; tin lành có ảnh hưởng muộn hơn 8 thập kỷ, nhưng phát triển rất nhanh, có số tín đồ đi theo đông hơn nhiều.

MÔ HÌNH QUẢN LÝ KHU DI TÍCH ĐỀN TRẦN Ở HƯNG HÀ, THÁI BÌNH

Cập nhật: 02/01/2018

Quần thể di tích khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần nằm ở làng Tam Đường, xã Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình là một cụm di tích nổi bật về quy mô, tầm giá trị và sức hút trong số hàng trăm di tích lịch sử, văn hóa toàn huyện, được quy hoạch với tổng diện tích 32,4 ha. Khu Di tích đền Trần và Thái Đường lăng đã được công nhận là Khu di tích khảo cổ học và di tích lịch sử quốc gia năm 1990. Năm 2014, lễ hội đền Trần Thái Bình được Bộ VHTTDL công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia. Năm 2015, Khu lăng mộ, đền thờ các vị vua triều Trần huyện Hưng Hà, Thái Bình được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt. Trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của di sản, việc lựa chọn mô hình quản lý nào để bảo tồn và phát huy giá trị của khu di tích đền Trần là một trong những nhiệm vụ cấp bách về mặt khoa học và thực tiễn.

BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN HÁN NÔM TRONG DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG TÂY NAM BỘ

Cập nhật: 28/12/2017

Tư liệu Hán Nôm ra đời từ trước năm 1945, bao gồm các sách và tài liệu ghi bằng chữ Hán, Nôm hoặc kết hợp cả hai. Các tư liệu này được viết trên giấy, vải, hoặc được khắc trên gỗ, đá, đồng, gốm, sứ… ghi lại toàn bộ lịch sử và đời sống dân tộc qua các thời kỳ trong quá khứ. Hiện nay, tư liệu Hán Nôm không còn nhiều, đặc biệt là những tư liệu tại các di tích lịch sử văn hóa không có biện pháp lưu trữ phù hợp, nhất là các tư liệu được khắc trên các chất liệu gỗ, đồng hoặc in dập trên giấy. Vì vậy qua thời gian, các tư liệu này đang đứng trước nguy cơ mất mát, mai một. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của những tư liệu Hán Nôm trở thành một vấn đề cấp thiết trong thời đại ngày nay.

BIỂU TƯỢNG NƯỚC TRONG TANG CA CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN

Cập nhật: 27/12/2017

Người Dao tuyển di cư đến Việt Nam khá sớm. Trên con đường di cư cũng như khi cắm bản tại vùng đất mới, người Dao tuyển gặp nhiều khó khăn về điều kiện vật chất nhưng không vì thế mà họ đánh mất đi đời sống văn hóa tinh thần. Nổi bật là kho tàng dân ca nghi lễ phong phú về thể loại, đặc sắc về nội dung. Một tài sản văn hóa phi vật thể vô giá của người Dao Tuyển là dân ca nghi lễ tang ma (còn gọi là tang ca). Tang ca của người Dao tuyển không chỉ phản ánh phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tư tưởng, tình cảm mà chứa đựng trong đó một hệ thống biểu tượng có giá trị văn học, văn hóa cao. Biểu tượng nước trong tang ca của người Dao tuyển, đặt trong cơ tầng văn hóa tộc người, giúp chúng ta hiểu sâu hơn đời sống văn hóa phong phú của tộc người này.

LỄ HỘI CẦU AN Ở ĐỒNG THÁP

Cập nhật: 15/11/2017

NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN Ở VIỆT NAM

Cập nhật: 13/11/2017

Thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng phổ biến ở Việt Nam và một số quốc gia Đông Á. Đây là một điểm khác biệt căn bản về văn hóa giữa Việt Nam so với các quốc gia phương Tây, nơi mà đời sống tinh thần của con người chủ yếu là Thiên chúa giáo hay các quốc gia Ả Rập mà Hồi giáo là quốc giáo. Nguồn gốc, bản chất của tín ngưỡng này đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu từ lâu với những kiến giải sâu sắc bằng nhiều phương pháp. Bài viết này là một đóng góp trên cơ sở nghiên cứu, so sánh, đối chiếu với những loại hình tín ngưỡng hay tôn giáo khác để tìm ra nguồn gốc, bản chất thực sự của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam.

CÁCH BÀI TRÍ ĐỒ THỜ TRONG ĐÌNH, CHÙA, ĐỀN HIỆN NAY

Cập nhật: 13/11/2017

Trong đời sống văn hóa tâm linh của người Việt có rất nhiều nơi thờ cúng khác nhau như đình, chùa, đền… nhưng không phải ai cũng hiểu được ý nghĩa của những địa điểm thờ cúng đó cũng như cách bài trí các đồ thờ như thế nào. Ở mỗi di tích khác nhau sẽ có cách hiểu và bày biện khác nhau. Đình là nơi thờ thành hoàng làng, đồng thời là nơi hội họp, bàn việc dân. Đình được coi là trung tâm sinh hoạt văn hóa gắn bó với cộng đồng dân cư và mang đặc trưng của nền văn minh lúa nước Việt Nam. Còn chùa lại là cơ sở hoạt động, truyền bá Phật giáo, nơi tập trung sinh hoạt, tu hành và thuyết giảng đạo Phật của các nhà sư, tăng, ni, kể cả các tín đồ hay người không theo đạo đều có thể viếng thăm, nghe giảng kinh hay thực hành các nghi lễ Phật giáo. Nhắc đến đền là người ta liên tưởng đến công trình kiến trúc để thờ cúng một vị thánh hoặc những nhân vật lịch sử được tôn sùng như những vị thần. Các đền thờ được xây dựng để ghi nhớ công ơn các anh hùng có công với đất nước được dựng theo truyền thuyết dân gian. Bài viết này sẽ là một bước ban đầu sơ bộ tìm hiểu cách bài trí đồ thờ trong các di tích đình, chùa, đền hiện nay.

PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG VÀ GIAO THOA VĂN HÓA ĐẠI VIỆT - CHAMPA

Cập nhật: 07/11/2017

Với việc tiếp nhận văn hóa Champa ở phương Nam, thời đại của Trần Nhân Tông đã đưa giao thoa văn hóa Chăm - Việt tới đỉnh cao của sự hòa hiếu trong lịch sử Việt Nam trung đại. Chính bởi điều đó, nền văn hóa Việt đã tự khẳng định một diện mạo, một truyền thống riêng biệt so với Trung Hoa và Ấn Độ.