Văn hóaVăn hóa đương đại

QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO Ở ĐẠI HỌC VĂN HÓA TP.HCM

Cập nhật: 30/03/2018

Nghiên cứu này trình bày kết quả khảo sát thực trạng quản lý chất lượng đào tạo (QLCLĐT) của Đại học Văn hóa TP.HCM (ĐHVH TP.HCM) dựa trên 5 thành phần quản lý chất lượng tổng thể (QLCLTT):1. Người học; 2. Lãnh đạo và chiến lược; 3. Hệ thống và Thủ tục; 4. Làm việc nhóm của giảng viên và nhân viên; 5. Tự đánh giá. Sử dụng số liệu khảo sát trong phạm vi của trường vào năm 2016, kết quả phân tích của chúng tôi cho thấy những điểm mạnh và điểm yếu về QLCLĐT của trường ĐHVH TP.HCM thời gian qua. Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất các giải pháp QLCLĐT ở trường ĐHVH TP.HCM theo tiếp cận QLCLTT, giúp nhà trường nâng cao chất lượng đào tạo, thỏa mãn nhu cầu người học, xã hội và đạt được mục tiêu chiến lược của mình.

TẠO ĐIỂM NHẤN VĂN HÓA VÙNG MIỀN CHO BẢO TÀNG ĐỊA PHƯƠNG

Cập nhật: 28/03/2018

Hiện nay, các bảo tàng địa phương muốn thu hút khách tham quan cần phải khoác lên mình một bộ trang phục mới, riêng và độc nhất. Tính riêng và độc nhất thể hiện ở bản sắc hay sắc thái riêng của từng vùng, miền. Đây chính là nét độc đáo mà các bảo tàng địa phương cần phải biết cách khai thác và khai thác một cách triệt để.

XÂY DỰNG LỐI SỐNG VĂN HÓA CHO THANH NIÊN ĐỒNG NAI HIỆN NAY

Cập nhật: 23/02/2018

Bồi dưỡng lối sống văn hóa là vun đắp các nhân tố văn hóa trong tổng thể phương thức hoạt động của con người. Đây là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong chiến lược phát triển con người của Đảng, Nghị quyết Đại hội lần thứ XII Đảng ta đã khẳng định: “Gắn nhiệm vụ xây dựng văn hóa, con người với nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước; gắn xây dựng môi trường văn hóa với xây dựng con người”(1). Đây là lực lượng trẻ, nhiệt huyết, có trình độ học vấn, phát triển mạnh mẽ về nhân cách và hoài bão lớn về các giá trị cuộc sống đáp ứng với mục tiêu, yêu cầu chuẩn mực đạo đức; họ khao khát được bồi đắp phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống để được cống hiến, khẳng định mình trong xã hội.

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH TRÊN ĐỊA BÀN BẮC GIANG

Cập nhật: 13/02/2018

Làng quê Kinh Bắc xưa, Bắc Giang nay là vùng đất tụ cư của nhiều dân tộc cùng chung sống, một miền đất cổ có bề dày văn hiến, truyền thống lịch sử. Con người nơi đây đã tận dụng những ưu thế tự nhiên để cải tạo, xây dựng công trình phục vụ cuộc sống, cho đến nay, những địa điểm, công trình đó đã trở thành di sản vật chất vô giá, làm nên kho tàng di sản văn hóa Bắc Giang. Tuy nhiên, cùng với thời gian, do hoàn cảnh, hạn chế nhất định, những di sản văn hóa được các thế hệ cha ông để lại đang có nguy cơ mai một. Giá trị của di sản văn hóa nói chung, hệ thống di tích nói riêng vô cùng to lớn, song điều quan trọng là việc quản lý, bảo tồn, phát huy những giá trị đang là vấn đề cần được quan tâm đúng mức của các cấp, các ngành, nhất là những người làm công tác quản lý văn hóa hiện nay.

PHONG CÁCH CỦA NGƯỜI VIỆT TẠI ĐÀ LẠT

Cập nhật: 08/02/2018

Đà Lạt, thành phố trên cao nguyên Langbian là một địa danh quen thuộc với người Việt Nam, du khách quốc tế. Từ những năm đầu TK XX, Đà Lạt chịu ảnh hưởng của nền văn hóa phương Tây. Chính sự hòa trộn hai nền văn hóa Pháp, Việt đã thấm sâu trong cách sống của người Đà Lạt, để từ đó hình thành nên phong cách thanh lịch, hiền hòa, đằm thắm, mến khách… của cộng đồng dân cư nơi đây. Cuối TK XIX, thực dân Pháp chủ trương xây dựng Đà Lạt thành trung tâm hành chính của họ ở Viễn Đông. Cùng với việc phát hiện ra cao nguyên Langbian, ý đồ xây dựng Đà Lạt thành một trung tâm nghỉ dưỡng của người Pháp, dòng người Việt, một bộ phận dân cư khác đã đến nơi đây định cư, góp phần tăng dân số Tây Nguyên; vì thế, cấu trúc dân số mang tính hỗn hợp nhiều tộc người.

THỰC TRẠNG BẢO VỆ DI SẢN HÁN NÔM TẠI CÁC DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT Ở HÀ NỘI

Cập nhật: 01/02/2018

Hiện nay, Hà Nội có 12 di tích và khu di tích quốc gia đặc biệt. Di sản Hán Nôm (DSHN) tại các di tích này rất phong phú, đa dạng như: Ngọc phả/thần tích, hoành phi, câu đối, sắc phong, văn bia, minh chuông, văn khánh… hoạt động bảo vệ DSHN được triển khai trên hai phương diện cơ bản là bảo vệ, giữ gìn trên cơ sở pháp lý và bảo vệ giữ gìn trên cơ sở khoa học. Cơ sở pháp lý liên quan đến chủ trương, chính sách sự tác động chủ quan của con người vào các khía cạnh hoạt động bảo vệ di sản. Cơ sở khoa học chủ yếu can thiệp chống sự xuống cấp và biến mất của di sản bởi các nhân tố khách quan và tự thân từ di sản. Bài viết sẽ trình bày khái quát thực trạng những nhân tố tác động đến quá trình bảo vệ di sản và hoạt động bảo vệ DSHN ở các di tích quốc gia đặc biệt này.

BIẾN ĐỔI SINH KẾ NÔNG NGHIỆP CỦA NGƯỜI SÁN DÌU Ở THÁI NGUYÊN

Cập nhật: 17/01/2018

Sự lựa chọn sinh kế của con người có quan hệ mật thiết với các yếu tố môi sinh (tự nhiên và xã hội), có giao lưu, tiếp nhận, trao đổi với các cộng đồng khác. Thực tế đó luôn đưa đến cho sinh kế những sự thay đổi, thích ứng để sinh tồn và phát triển. Bài viết nghiên cứu sự biến đổi sinh kế qua hoạt động trồng trọt của người Sán Dìu ở Thái Nguyên để thấy được sự nhạy bén trước những tác động của bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay và sự thích ứng của tộc người khi điều kiện môi sinh thay đổi.

ỨNG XỬ VĂN HÓA GIỮA CON NGƯỜI VỚI MÔI TRƯỜNG TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Cập nhật: 16/01/2018

Trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên là vấn đề khách quan, phổ biến. Việc ứng xử hài hòa giữa con người với môi trường hướng đến phát triển bền vững chính là quá trình chuyển từ nhận thức, thái độ trách nhiệm đến hành vi ứng xử nhân văn của con người đối với môi trường sống. Lối ứng xử đó không chỉ khẳng định vai trò của con người với tự nhiên, mà còn khẳng định mối quan hệ, sự đồng tiến giữa con người và tự nhiên trong tiến trình phát triển.

KHAI THÁC THỦY SẢN CỦA NGƯỜI KHƠ MÚ Ở KỲ SƠN, NGHỆ AN

Cập nhật: 29/12/2017

Khơ mú là một trong những tộc người có điều kiện kinh tế khó khăn, tỉ lệ hộ nghèo cao. Những nghiên cứu trước đây về sinh kế của nhóm người này thường tập trung vào hoạt động canh tác nương rẫy, khai thác rừng. Một hoạt động sinh kế có vai trò quan trọng, gắn liền với đời sống hàng ngày của họ ít được đề cập đó là khai thác nguồn lợi thủy sản. Thông qua tư liệu điền dã về nhóm người Khơ mú ở 9 bản thuộc các xã dọc sông Nậm Nơn, Nậm Mô trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, Nghệ An, bài viết tập trung mô tả, phân tích vai trò của khai thác thủy sản đối với sinh kế của họ. Qua đó cho thấy, mặc dù không phải là hoạt động sinh kế chính, nhưng khai thác thủy sản có vai trò nhất định đối với người Khơ mú không chỉ mang lại nguồn thực phẩm trong bữa ăn hàng ngày, giải quyết việc làm trong lúc nông nhàn mà còn đóng góp một phần vào nguồn thu nhập cho kinh tế hộ gia đình.

TÁC ĐỘNG CỦA NGHỀ CƠ KHÍ VÀ MỘC DÂN DỤNG ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA LÀNG ĐẠI TỰ

Cập nhật: 26/12/2017

Đại Tự là một làng cổ, thuộc Xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 13 km về phía tây. Từ một làng nông nghiệp, Đại Tự du nhập thành công nghề cơ khí và mộc dân dụng. Đây là mấu chốt của những thay đổi về văn hóa. Từ cuộc sống dựa vào nông nghiệp là chính, chuyển sang cuộc sống công nghiệp đã tạo ra những thay đổi về nhịp sống, lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng và ảnh hưởng đến thái độ của cư dân đối với di sản văn hóa truyền thống.

TƯ TƯỞNG VỀ ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG Ở PHƯƠNG ĐÔNG

Cập nhật: 20/11/2017

Người phương Đông luôn xem trọng tự nhiên, sống hòa đồng với thiên nhiên. Đây là cách con người ứng xử với thiên nhiên hay còn gọi là đạo đức môi trường. Ở những nhà triết gia khác nhau, trường phái khác nhau, tư tưởng về đạo đức môi trường cũng được thể hiện khác nhau. Những tư tưởng này chưa được đúc kết thành một hệ thống mà nằm rải rác trong các cuốn sách, đòi hỏi chúng ta cần tìm hiểu và phân tích kỹ, hệ thống hóa lại. Trong lịch sử phương Đông nổi bật nhất có tư tưởng của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo về đạo đức môi trường.

PHẠM TRÙ DÂN TRONG NHO GIÁO TIÊN TẦN

Cập nhật: 20/11/2017

Trong những cuốn sách được xem là kinh điển, thể hiện nội dung chủ yếu của Nho giáo tiên Tần như Luận ngữ, Mạnh Tử, Tuân Tử thì phạm trù dân (dân là ai, gồm những tầng lớp nào) chủ yếu được các nhà nho đặt trong mối quan hệ đối lập với tầng lớp khác, tầng lớp trị dân (gồm vua, quan). Cơ sở, căn cứ chủ yếu để các nhà nho Tiên Tần phân biệt, chỉ ra sự khác nhau giữa hai tầng lớp này là do sự khác nhau chủ yếu về đạo đức, tài trí, địa vị, vai trò xã hội của các tầng lớp này.