Thông tin VHNTChân dung văn hóa

Thứ Ba, 10/04/2018 | 15:52 GMT+7

KHOAN DUNG TRONG TƯ TƯỞNG KINH TẾ HỒ CHÍ MINH

Trong quá trình lãnh đạo cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội, người anh hùng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh trở thành nhà chiến lược kinh tế trong xây dựng và kiến thiết đất nước. Tìm hiểu tinh thần khoan dung trong tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh giúp chúng ta hiểu rõ hơn nhân cách cao cả của Người và rút ra những bài học sâu sắc cho sự nghiệp CNH, HĐH, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế hiện nay.

1. Biểu hiện cơ bản của tinh thần khoan dung trong tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh

Khoan dung là một hình thức tự do về tư tưởng, pháp lý, đồng thời cũng là một thái độ ứng xử tích cực, thừa nhận và chấp nhận sự khác biệt, đa dạng của các nền văn hóa, tôn trọng quyền và tự do của người khác. Mặt khác, khoan dung không chỉ là một nghĩa vụ đơn thuần trong lĩnh vực đạo đức mà còn là sự cần thiết về mặt chính trị và pháp luật. Thiết lập tinh thần khoan dung bao hàm cả việc xây dựng những điều kiện văn hóa, xã hội, chính trị và kinh tế, hướng tới việc chung sống hòa bình, nâng cao giá trị con người, đảm bảo dân chủ, quyền con người, công bằng và bình đẳng.

Tinh thần khoan dung trong tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh trước hết biểu hiện ở việc xác định mục đích cao nhất của việc xây dựng, phát triển kinh tế là nhằm cải thiện và nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân; tôn trọng, đề cao giá trị con người, nguồn lực con người trong hoạt động kinh tế, coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế, hướng phát triển kinh tế tới việc tạo lập môi trường và điều kiện để con người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Trong điều kiện cách mạng tháng Tám vừa thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời đã phải đối phó với muôn vàn khó khăn, đời sống của nhân dân, nhất là nông dân vô cùng thiếu thốn, đói khổ nên tại phiên họp đầu tiên của Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Hồ Chí Minh đã xác định mục tiêu cụ thể mà Ðảng và Chính phủ phải tập trung giải quyết lúc đó là:

“Chúng ta phải thực hiện ngay:

1. Làm cho dân có ăn

2. Làm cho dân có mặc

3. Làm cho dân có chỗ ở

4. Làm cho dân có học hành

Cái mục đích chúng ta đi đến là bốn điểm đó” (1).

Những năm bước vào giai đoạn đầu của thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã nêu ra yêu cầu và mục tiêu là: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt” (2). Tư tưởng kinh tế của Hồ Chí Minh không những thể hiện tư tưởng, tình cảm, trách nhiệm của Người đối với nhân dân mà còn cho thấy Người luôn nắm vững những nhu cầu, nguyện vọng về đời sống của các tầng lớp nhân dân trong quá trình xây dựng đất nước.

“Đem tài dân, sức dân, của dân, làm lợi cho dân” là mục đích, mục tiêu cơ bản, chủ yếu khi sử dụng các nguồn lực trong nhân dân vào phát triển kinh tế xã hội. Qua mệnh đề này, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ việc sử dụng tiền bạc, trí tuệ, sức lực của nhân dân trước hết và trên hết phải đem lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, nhân dân có quyền thụ hưởng thành quả từ đóng góp của mình vào quá trình tăng trưởng kinh tế, phát triển sản xuất.

Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc vai trò có ý nghĩa quyết định của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng và xây dựng, phát triển kinh tế cho chế độ mới. Người luôn luôn xác định: dân chủ là cái quý báu nhất của nhân dân; thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Vì vậy, khi bắt tay vào xây dựng nền kinh tế trong điều kiện các nguồn lực để phát triển kinh tế vô cùng yếu kém, lạc hậu mà vẫn bảo đảm nhu cầu; cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân là vấn đề đặt ra một cách rất cấp bách phải thực hiện. Thực hành dân chủ rộng rãi, tin tưởng vào tài năng, trí tuệ, sức lực của nhân dân, coi nhân dân là chủ thể của quá trình xây dựng, phát triển kinh tế được Hồ Chí Minh xem là giải pháp hàng đầu.

Dân chủ trong kinh tế, theo Hồ Chí Minh, là người dân có quyền tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế của đất nước, của địa phương, tiếng nói của nhân dân phải được các cơ quan lập kế hoạch lắng nghe và tôn trọng. Người cho rằng nếu không tuân thủ vấn đề có tính nguyên tắc này thì các kế hoạch đề ra sẽ không tránh khỏi phiến diện và khó thực hiện. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, dân chủ xã hội chủ nghĩa là làm cho nhân dân thoát nạn bần cùng, có công ăn, việc làm, được ấm no và sống cuộc đời hạnh phúc. Phải giải phóng sức sản xuất, phát triển sản xuất, chú ý tăng cường các hình thức hợp tác phù hợp để mang lại no đủ, giàu có, thịnh vượng, công bằng, tiến bộ, hạnh phúc cho đa số nhân dân lao động.

Điểm cốt lõi về dân chủ của khoan dung trong tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh là tôn trọng, thừa nhận và bảo đảm phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều loại hình sở hữu tư liệu sản xuất khác nhau, trong đó, kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, trong chế độ dân chủ mới có năm loại kinh tế khác nhau: kinh tế quốc doanh; các hợp tác xã; kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ; tư bản tư nhân; tư bản nhà nước. Có những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất cơ bản như: “Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân; sở hữu của hợp tác xã tác là sở hữu của tập thể của nhân dân lao động; sở hữu của những người lao động riêng lẻ; một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản” (3). Trong đó, “công tư đều được chiếu cố, chủ và thợ đều có lợi” (4) và “kinh tế quốc doanh lãnh đạo nền kinh tế quốc dân và nhà nước phải đảm bảo cho nó phát triển ưu tiên để tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội và thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ nghĩa” (5).

Một trong những nguyên tắc mà Hồ Chí Minh thường xuyên nhấn mạnh trong tổ chức các loại hình hợp tác xã là dân chủ, tự nguyện, hiệu quả, chỉ có trên cơ sở đó người dân mới phấn khởi, hăng hái làm việc, tích cực tham gia, đóng góp các nguồn lực cho hợp tác xã. Thực tiễn cho thấy, nơi nào chính quyền biết tôn trọng ý nguyện của người dân, biết vận động, thuyết phục và tạo điều kiện để người dân tự giác lựa chọn việc tham gia vào các hoạt động kinh tế, các tổ chức kinh tế thì nơi đó, địa phương đó thành công. Ngược lại, nơi nào không thực hiện tốt vấn đề này thì khó huy động được các nguồn lực trong nhân dân để phát triển kinh tế xã hội. Mặt khác, phân phối công bằng, hợp lý cũng là nguyên tắc đảm bảo tính khoan dung trong kinh tế “làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng, những người già yếu, tàn tật sẽ được nhà nước giúp đỡ chăm nom” (6). Các quan hệ lợi ích phải được giải quyết hài hòa, cá nhân và tập thể, nhà nước và nhân dân đều có lợi, qua đó đảm bảo tính công bằng, bằng đẳng trong kinh tế.

Có thể nói, với trái tim và khối óc luôn hướng về nhân dân, mong muốn người dân có được cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn nên Hồ Chí Minh luôn luôn tôn trọng và bảo vệ lợi ích chính đáng của họ. Mục tiêu của Chủ nghĩa Xã hội là tạo ra những điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội để con người phát triển một cách đầy đủ, toàn diện, nên chế độ mới luôn tôn trọng và bảo vệ quyền con người, lợi ích riêng, tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của các cá nhân và gia đình. Hồ Chí Minh cho rằng, bảo vệ quyền sở hữu đối với của cải, tài sản công dân nói riêng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nói chung của họ là trách nhiệm của các cơ quan công quyền và của toàn xã hội. Theo Hồ Chí Minh, thực hiện tốt vấn đề này không những thể hiện được bản chất tốt đẹp và tính nhân văn, khoan dung sâu sắc của chủ nghĩa xã hội, mà còn phát huy được vai trò động lực của con người trong hoạt động kinh tế, huy động được nhiều nguồn lực để đầu tư cho sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống của nhân dân.

2. Giá trị của tinh thần khoan dung kinh tế Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

Nhằm kế thừa và phát huy tinh thần khoan dung trong tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra nhiều chủ trương quan trọng, trong đó lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, thừa nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội. Ý nghĩa của việc thực hành tinh thần khoan dung trong phát triển kinh tế được Đảng ta thể hiện rất cụ thể trong chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh và bình đẳng trước phát luật, “xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu” (7).

Kế thừa và phát triển quan điểm của Đảng, Đại hội XII khẳng định tiếp tục phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đây là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường; là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển; là động lực giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển nhưng phải phù hợp với kinh tế thị trường. Sự lựa chọn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta xuất phát từ nhận thức đúng đắn của Đảng ta: kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại, có thể tồn tại và thích ứng với nhiều hình thái xã hội khác nhau; kinh tế thị trường phát triển với trình độ cao dưới chủ nghĩa tư bản song không đồng nhất với chủ nghĩa tư bản và cũng không đối lập với chủ nghĩa xã hội. Điều đó cũng có nghĩa là nền kinh tế của chúng ta không khác biệt mà mang đầy đủ các đặc trưng phổ biến của kinh tế thị trường như: tự do kinh doanh và cạnh tranh; mở cửa và hướng tới tự do hóa; đa dạng hóa các hình thức sở hữu; lấy quy luật giá trị và quan hệ cung cầu để xác định giá cả; đề cao tinh thần khởi nghiệp; coi cạnh tranh là động lực phát triển; phân bổ nguồn lực phát triển và xử lý những yếu kém nội tại của nền kinh tế theo các nguyên tắc của thị trường.

Trong giai đoạn vừa qua, sự phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân, khu vực FDI, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, phát triển thị trường chứng khoán, xã hội hóa dịch vụ công, triển khai đối tác công - tư một cách sáng tạo trong xây dựng cơ bản và phát triển kết cấu hạ tầng đã góp phần giải phóng sức sản xuất và mọi tiềm năng phát triển trong và ngoài nước. Điều kiện cơ bản để huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển là bảo đảm tự do kinh doanh và thúc đẩy cạnh tranh; thiết lập và hoàn thiện cơ chế thị trường lành mạnh, minh bạch; phát triển đầy đủ, đồng bộ và vận hành thông suốt các loại thị trường; các chủ thể thị trường cạnh tranh bình đẳng; đặc biệt cần có sự bình đẳng trong cơ hội đầu tư, sản xuất và kinh doanh đối với mọi chủ thể kinh tế, không phân biệt đối xử với cá nhân hay tập thể, doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp nhà nước. Thị trường cũng chính là cơ chế chủ yếu thực hiện phân phối các thành quả của tăng trưởng kinh tế, trong đó thu nhập của mỗi người được hình thành trên cơ sở và phù hợp với kết quả lao động cũng như mức đóng góp về các nguồn lực trong quá trình tạo ra của cải xã hội. Bên cạnh đó, nhà nước cũng chủ trương đa dạng hóa các hình thức phân phối, trong đó, đáng chú ý là hình thức phân phối theo phúc lợi xã hội. Đây là một trong những sự thể hiện khoan dung trong kinh tế, mà cụ thể là trong phân phối đối với một bộ phận tầng lớp yếu thế trong xã hội. Đây cũng chính là những tiền đề quan trọng để mọi chủ thể xã hội phát huy năng lực và sức sáng tạo, vươn lên làm giàu cho chính mình và làm giàu cho xã hội.

Như vậy, khoan dung trong tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh được thể hiện sâu sắc ở tất cả các vấn đề của việc xây dựng và phát triển kinh tế, trong thực hành dân chủ kinh tế đến những tư tưởng, quan điểm, chủ trương mang ý nghĩa phương pháp luận nhằm huy động các nguồn lực trong nhân dân, xã hội để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của nhân dân và đi cùng với nó là các chính sách, giải pháp, biện pháp có tính chất vi mô để giải quyết các vấn đề cụ thể trong quá trình vận hành nền kinh tế. Đây là sự tôn trọng, yêu thương, tin tưởng con người của Hồ Chí Minh, đồng thời cũng thể hiện tính nhân văn, khoan dung sâu sắc và khát vọng cháy bỏng của Người là đem lại cho mọi tầng lớp nhân dân một đời sống ngày thêm tươi đẹp, văn minh. Đó cũng chính là động lực để dân tộc Việt Nam từng bước xây dựng một nước Việt Nam hòa bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, đủ sức sánh với với các cường quốc năm châu về mọi mặt. Vì thế, tinh thần khoan dung trong tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh sẽ luôn là hành trang quý báu của dân tộc Việt Nam trong chặng đường của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

____________

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.175.

2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 13, tr.438.

3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, tr.372.

4, 5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, 1996, tr.361, 217.

6. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, 2000, tr.372.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.84. 

Nguồn : Tạp chí VHNT số 406, tháng 4 - 2018

Tác giả : ĐỖ DUY TÚ

Ý kiến bạn đọc

Loading.....

(Vui lòng điền đầy đủ thông tin và gõ nội dung bằng tiếng Việt có dấu)

Bài viết liên quan