Nghệ thuậtMỹ thuật-Kiến trúc

Thứ Tư, 06/01/2010 | 00:00 GMT+7

NGUYỄN BẢO TOÀN - MỘT DI SẢN THẨM MỸ NỐI DÀI

13 tuổi, Bảo Toàn đi khỏi Hà Nội, bắt đầu 10 năm sống phong trần ở vùng Tây Bắc xa xôi hoang vắng. Ông là người con thứ 5 trong một gia đình đông đúc có tới 10 anh chị em. Đó là một gia đình tư sản nhỏ ở phố Hàng Gai, có chút sa sút sau cách mạng. Ông lớn lên giữa phố phường Hà Nội thời chiến tranh. Vốn là một đứa trẻ thích lang thang nghịch ngợm, với biệt tài khéo tay, ông tự kiếm tiền sống bằng công việc bán kem, khắc bút, đá bóng...

 

Ông viết về bản thân: “Sinh năm 1950 (năm Canh Dần), đẻ Hàng Bè; Biết lẫy, bò, đi ở Hàng Gai. Biết kiếm sống ở Hàng Đào - Hàng Ngang năm 10 tuổi. 11-12 tuổi kiếm sống ở bờ hồ Hoàn Kiếm và 36 phố Hàng. Tuổi thơ - Hà Nội đi trong tôi như một giấc mơ dài - một kỷ niệm đẹp. Tôi yêu Hà Nội - 36 phố Hàng”. Cha mẹ sợ ông lang thang ở 36 phố Hàng lâu quá sẽ trở thành một đứa trẻ bụi đời nên có ý gửi gắm ông lên “tu dưỡng” với người anh trai, lúc đó dạy học ở Mộc Châu - Sơn La, cách Hà Nội 200km. Vùng này hoang sơ, chủ yếu là địa bàn của người Mông, người Thái sinh sống...
Năm 1980, Bảo Toàn nhận lời làm chuyên viên phục chế của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, từ đó đến nay đã xấp xỉ 30 năm, công việc nhà nước của ông vẫn là một chuyên viên phục chế. Đây cũng cũng là môi trường nghệ thuật thích hợp để nghệ sĩ Bảo Toàn hình thành nên sự nghiệp nghệ thuật của mình. Trước hết là nghệ thuật với đất, với men và lửa. Truyền thống nghệ thuật gốm của mỹ thuật Việt Nam là một quá trình kéo dài mấy nghìn năm với nhiều đỉnh thành tựu, từ gốm mộc Đông Sơn tới gốm thời kỳ Bắc thuộc, gốm hoa lam, men ngọc tinh tế và hoa mỹ thời Lý, gốm hoa nâu thô phác và khỏe khoắn thời Trần, gốm men lam thời Lê,... Bảo Toàn không chỉ có cơ hội tiếp xúc với các tác phẩm gốm nguyên bản của các thời, mà ông còn có cơ hội tái hiện và nắm vững kỹ thuật chế tác gốm của các thời ấy qua công việc phục chế của mình. Đó là bước tiên quyết để tiếp theo, ông thấu cảm một số nét đặc trưng của thẩm mỹ truyền thống dân tộc nằm trong đồ gốm Việt. Gốm Việt thì phải “phồn thực”, nhấc lên “đầm” tay, thỏa mãn thị giác với khoái thú xúc giác của việc sờ mó, dáng gốm giống như trái quả hoặc như một phần, một khối của thân thể con người, kích cỡ nho nhỏ. Việc lấy độ cầu kỳ, tinh chuẩn và hoàn thiện... để so sánh một tác phẩm gốm Việt với gốm Trung Hoa, Nhật Bản là bất khả thể. Bởi chất đất, cách thức tạo tác, và mục đích thẩm mỹ là hoàn toàn khác nhau. Nhưng nếu so độ “ấn chứng” tình cảm cá nhân lên một món đồ gốm thì gốm Trung Hoa, Nhật Bản cũng không thể so sánh với gốm Việt. Nếu như nói thẩm mỹ truyền thống nằm trong gốm Việt có một khía cạnh hướng tới sự không hoàn thiện triệt để thì có vẻ nghe rất buồn cười. Nhưng đó là một hiện tượng có thực. Và Bảo Toàn đã sử dụng “triệt để” cái khía cạnh “thẩm mỹ của sự không hoàn thiện” này vào những sáng tác gốm mới của mình. Ông nói: Làm gốm thì phải có rớt, dãi, đờm, sẹo, chồng dính thì mới hay! (các từ trong ngoặc kép chỉ những biến dị trên men hoặc trên dáng gốm trong quá trình vuốt, nung). Thân gốm của Bảo Toàn rất dày, nặng, dáng gốm thấp đậm và no khối. Ông còn thẳng tay chém, khía, rạch, vặn, bóp, vuốt... lên thân các đồ gốm chuốt tay, rồi bôi màu lên, để khi cho vào nung, thân gốm bị lửa làm “phồi” nứt ra những vết rất gợi cảm... Cái thẩm mỹ không hoàn thiện trong truyền thống nối dài này “gặp gỡ” với một số tính chất tương tác, đại chúng của thẩm mỹ thời dân chủ hiện đại... Nếu như một vòng tròn bị đứt nét mất một góc ba phần tư luôn là bài học căn bản về nét, gợi sự nối liền của nét tròn, thì gốm của Bảo Toàn cũng vậy, nó luôn ẩn chứa sự kích thích, sự thiếu, sự tò mò hứng thú... trong cảm giác của người xem! Có thể nói sự “trớ trêu” khi đi vào học gốm của Bảo Toàn chính là khởi thủy toàn bộ sự nghiệp nghệ thuật của ông...
Năm 1972, Bảo Toàn là công nhân nhà máy giầy vải Thụy Khuê. Buổi tối, Bảo Toàn đi học vẽ để thi vào trường mỹ thuật. Là một học sinh “cứng đầu”, Bảo Toàn bị đẩy qua đẩy lại giữa hai lớp điêu khắc và hội họa. Sau cùng, ông thi vào khoa Điêu khắc, Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội. Cái cơ duyên “trớ trêu” đẩy ông đến với nghề làm gốm là như thế này: Sinh viên lớp gốm lúc đó bị coi thường là “thợ thủ công” chứ không phải là "học để làm nghệ sĩ". Bảo Toàn bị tráo điểm với một sinh viên khác, xuống lớp học gốm. Mới đầu ông định bỏ, sau đó thấy làm gốm cũng thú vị, cũng là điêu khắc thôi, nên quyết định học.
Tranh vẽ trên ảnh phố Hàng Đường
 
Năm 1994, Bảo Toàn trình bày triển lãm cá nhân Đất qua lửa với những ý niệm sắp đặt đầu tiên, xác định ông là một nghệ sĩ tạo hình đa năng. Khi làm triển lãm này, ông chưa biết và chưa nghe những thông tin gì về một loại hình nghệ thuật có tên là "sắp đặt"(installation art). Điều thúc đẩy ông chỉ là niềm cảm hứng được thể hiện ý tưởng trình bày gốm của mình trong một không gian rộng. Sau hàng chục năm làm gốm, ông đã để dành được một khối lượng gốm đồ sộ. Cho đến khi bày ra, Bảo Toàn chỉ thấy gốm của mình không thể bày theo lối cũ là để gốm trên bục bệ. Đó là một không gian chết của gốm chứ không phải không gian như nó được sinh ra. Ông bèn dùng rơm rạ, cát, tre dựng thành các khối, các cột để treo, bày gốm lên cát, lên rơm, và dựng những cột gốm cao đến sát trần nhà. Chính từ quá trình làm gốm và nhu cầu tạo lập một không gian sinh nở cho gốm này mà Bảo Toàn động chạm được đến mỹ cảm thuần khiết của người Việt trong nghệ thuật tạo hình. Đó là việc ưa thích tạo ra những sản phẩm nhỏ nhắn, cô đọng và tình tứ, với bề mặt tạo hình ấm, xốp, bùi, mầu trầm lắng và chất thô ráp chồi ra trong một không gian huyền hoặc, nhao nhao bừa bộn một cách rất sống động, rộn ràng. Và đây cũng là điểm chốt, là chìa khóa cho một loạt triển lãm nghệ thuật sắp đặt về sau của ông... 10 năm trời tiêu xài tuổi thanh niên ở Tây Bắc hoang vu huyền bí cũng không phải là vô ích. Khoảng thời gian ấy đã đưa vào tác phẩm của Bảo Toàn không ít khoái cảm về những điều nằm trong khái niệm hẹp của cái gọi là “huyền học phương Đông”. Bảo Toàn ưa thích việc tạo ra nhiều miếng gốm, que gốm giống như hình nhân hay “bùa chú”, với những chấm, nét, ký hiệu, con số như ta đếm thấy trên các lá bùa thầy cúng, những con giáp trong lịch can chi của phương Đông. Triển lãm sắp đặt Rằm tháng Bảy (1999) để “xá tội vong nhân” của ông khai thác cùng kiệt sự sống của những “hình nhân - bùa chú” bằng gốm này trong không gian có tác động của ánh sáng nến. Cũng cần nói thêm, năm 1972, khi đang làm công nhân của nhà máy giầy vải Thụy Khuê, (nhà máy có một phân xưởng đặt ở phố Khâm Thiên), Bảo Toàn đã cùng tự vệ nhà máy đi tìm kiếm và thu dọn xác người ở phố Khâm Thiên sau đợt Mỹ ném bom rải thảm xóa trắng con phố này. Ấn tượng về những cái chết của người dân vô tội vì bom đạn chiến tranh cũng là một nguyên nhân để triển lãm Rằm tháng Bảy ra đời.
Đến đây, cũng cần nhắc một sự kiện đặc biệt đối với cuộc đời Bảo Toàn. Năm 1977 là một năm ông gặp nhiều tai họa. Đang học đại học năm cuối thì ông bị bắt tù 6 tháng vì tổ chức và tham gia vẽ mẫu khỏa thân. Cả người mẫu cũng bị tù. Thời đó, vẽ hay chụp ảnh khỏa thân bị coi là tuyên truyền văn hóa đồi trụy, quy tội rất nặng. Trước đó, có một số nhà nhiếp ảnh chụp ảnh khỏa thân đã từng bị tù hoặc bị đi cải tạo như Nguyễn Duy Kiên, Mai Nam... Cùng thời gian bị tạm giam này, ông bị mất đứa con gái đầu lòng vừa mới sinh. Đây có lẽ là những cú sốc nặng nhất của số phận nghệ sĩ. Ra tù, không có bằng tốt nghiệp, không xin được việc làm. Có thời gian ông còn đi bảo kê cho những chuyến buôn thuốc lá lậu trên tàu Bắc- Nam để biết phương Nam. Trên những chuyến tàu này, ông được chứng kiến tận mắt nhiều chuyện dưới đáy xã hội thời khó khăn bao cấp, ngăn sông cấm chợ về hàng hóa. Quãng thời gian 3 năm, 1977-1980, để lại rất nhiều vết thương không tài nào xóa được trong tâm hồn nghệ sĩ, và sẽ in dấu lên nghệ thuật của ông sau này ở các triển lãm sắp đặt Rằm tháng Bảy (1999), Đồng đội (2000). Có người phát hiện ra một chuyện rất thú vị là Nguyễn Bảo Toàn chưa đi bộ đội ngày nào, nhưng ông làm triển lãm sắp đặt Đồng đội gây xúc động mạnh với những người từng tại ngũ. Họa sĩ trả lời rằng đồng đội ở đây của ông là những người bạn đã từng chịu khổ nạn trong tù hoặc những người ông đã gặp trong giai đoạn khó khăn nhất của cuộc đời, họ giúp ông rất nhiều nhưng ông không bao giờ có thể gặp lại...
Tất cả tác phẩm sắp đặt của Bảo Toàn được thiết kế bằng những vật liệu dân dã mộc mạc như tre nứa, giấy bồi, cát, rơm, gốm... mang tính chất đời sống của một xã hội nông nghiệp. Đặc trưng trong các tác phẩm sắp đặt của ông khác với người khác là luôn có mặt của gốm do ông tự làm, như một bộ chữ cái, là linh hồn, là khởi thủy. Ngôn ngữ sắp đặt của một người tự học có nhiều tính gợi mở không gian hơn là sự rành mạch đối thoại của những phần tử sắp đặt của các nghệ sĩ trẻ sau này. Đó là các triển lãm Ngày mùa (2004) hay Thời gian và tri thức (2006). Triển lãm sắp đặt của Bảo Toàn - một người khai phá loại hình này ở Việt Nam - phần nào mang tính chất như những tác phẩm điêu khắc không gian...
Năm 1970, Bảo Toàn vẽ bức sơn dầu Ông đồ(trước khi thi vào trường Mỹ thuật, 2 năm sau đó). Bức tranh được ông chuyển sang thành một bức sơn mài duy nhất, với những mảng khối lớn. Ông đồ ngồi vo tròn viết chữ trong một khối vuông, nhìn một cách khác, thì cả khối hình này rất giống những chân dung tự họa ước lệ của họa sĩ sau này. Là một tay nghề tạo hình đa năng, Bảo Toàn có nhiều gợi ý về hội họa mà họa sĩ ghi chép lại đều đặn trên những mảnh giấy nhỏ bằng bàn tay (như loạt tranh 36 phố chưa triển lãm), chưa khai triển thành những bố cục hội họa lớn. Có một sự thống nhất trong phương pháp sáng tác của họa sĩ dù đối với gốm hay với tranh, ông ưa thích phát triển bố cục theo chiều ngang (như tranh bình đồ ngày xưa). Nhân vật và phong cảnh đều được ước lệ hóa bằng các khối lớn và nét giản lược (có lúc như những hình ký hiệu) và được thoải mái “xoắn, vặn” như những khối gốm họa sĩ hay dùng tay uốn, bẻ, làm cho nó méo đổ đi như sự thể hiện cảm xúc một cách thoải mái. Năm 2010, ông tròn 60 tuổi, cũng là năm về hưu với công việc nhà nước. Ông dự định sẽ kỷ niệm việc này bằng một triển lãm bộ tranh sơn dầu lớn có tên là Chuyển động. Hội họa là điểm bắt đầu khi họa sĩ bước vào nghệ thuật, cũng sẽ là những bước khai triển tiếp theo của họa sĩ khi ông bước qua tuổi 60, tròn “một vòng hoa giáp”.
Đời một con người, dù phong trần long đong đến mấy, khi tóm tắt lại, có khi cũng chưa đầy một trang giấy. Nhưng để trải mình qua hết những đận “lên voi xuống chó” ấy, thì thật là kinh khủng. Bảo Toàn là một người may mắn đau khổ khi ông được nếm trải vừa đủ và chứng kiến tất cả những gì là tréo nghoe của số phận, hạnh phúc và mất mát, thua thiệt với bản lĩnh và tài hoa của một người dân phố cổ Hà Nội. Là một người mở đường tình cờ cho nghệ thuật sắp đặt ở Việt Nam, nhưng ông không hề muốn và biết trước cuộc đời sẽ sắp đặt ông trở thành một người làm nghệ thuật... Tuy bây giờ, đã trở thành nghệ sĩ tạo hình danh tiếng với đủ hệ tác phẩm nhiều hình thức, nhưng có một điều buồn cười là ông vẫn không có tấm bằng tốt nghiệp đại học...
Bảo Toàn là một khối cảm xúc đồ sộ có thể bứt ra thành hội họa, thành điêu khắc, thành gốm, nhưng chỉ hội tụ một cách phức hợp thú vị nhất trong nghệ thuật sắp đặt với những nhánh cảm thức liên tiếp về quá khứ, về chiến tranh, về một Hà Nội tĩnh lặng, về nỗi hân hoan mùa vụ của con người nông nghiệp, về cái chết và sự sinh sôi, sự có mặt của tín điều linh thiêng vô hình... Những tác phẩm sắp đặt của Bảo Toàn chứng minh cho một quá trình như là một quy luật của nghệ thuật rất gần với tư tưởng Phật giáo: quay lại là đến, đi tới là về, tuy tác giả không hề ý thức trước rằng, đó là một điểm gặp giữa sự sáng tạo của mình với bầu không khí của những loại hình nghệ thuật đương đại nhất. Giống như những ký hiệu tạo hình trên trống đồng Đông Sơn mang đầy chất ma thuật cổ xưa, nhưng hoàn toàn tương hợp với cảm xúc của con người hiện đại. Điều đó chứng minh cho việc kho tàng văn hóa tạo hình hàng nghìn năm của dân tộc, luôn có thể là nguồn năng lượng bất tận cho những người trẻ còn hoang mang bây giờ...
Quá trình sáng tác của nghệ sĩ Bảo Toàn có liên quan nhiều đến nhà phê bình nghệ thuật quá cố Thái Bá Vân. Ông như một người anh, một người bạn của nghệ sĩ, thi thoảng rủ rỉ tâm tình những câu chuyện vừa đơn sơ, vừa thâm áo về cuộc đời và nghệ thuật. Bảo Toàn có kể cho tôi nghe một lời khen ngợi, động viên, khuyến khích của Thái Bá Vân đối với ông làm ông nhớ mãi. Sau triển lãm sắp đặt Đất qua Lửa, ông Thái Bá Vân lúc đó đã yếu lắm nhưng vẫn cố gắng đến dự. Khi xem xong, ông Thái Bá Vân nói với Bảo Toàn: Tôi thấy nghệ thuật có hai đầu như cái đòn gánh, một đầu này là các đỉnh như Kim tự tháp, Leonardo da Vinci, Michelangelo..., một đầu kia thì nghệ thuật nó cứ như đùa, ai cũng tưởng mình làm được. Đầu này tôi thấy phảng phất bóng dáng ông...
Gốm, tranh và sắp đặt của Bảo Toàn là vậy, là một đại diện ở đầu bên kia của "thế giới nghệ thuật thứ ba".
 
 

Nguồn : Tạp chí VHNT số 306, tháng 12-2009

Tác giả : Vũ Lâm

Ý kiến bạn đọc

Loading.....

(Vui lòng điền đầy đủ thông tin và gõ nội dung bằng tiếng Việt có dấu)

Bài viết liên quan