Nghệ thuậtMỹ thuật-Kiến trúc

Thứ Ba, 15/01/2013 | 00:00 GMT+7

MỘT BIỂU TRƯNG CỦA VĂN HÓA VIỆT

 

Tranh Đông Hồ ở Việt Nam ra đời khá sớm, ít nhất cũng hơn năm thế kỷ, được lưu truyền trong đời sống người Việt Nam từ đời này qua đời khác. Tranh Đông Hồ có một thời kỳ dài khá thịnh vượng nhờ một thị trường tiêu thụ rộng lớn, trải dài từ các tỉnh miền núi phía Bắc xuống tận miền Trung Nam Bộ, và hầu như suốt thời kỳ tồn tại và phát triển, nó không có một đối tượng cạnh tranh nào. Nghề làm tranh ở Đông Hồ đã trải qua nhiều biến thiên lịch sử. Có thuyết cho rằng nghề này bắt nguồn từ việc các cụ đồ nho khai bút đầu năm bằng thơ, chữ đại tự, có vẽ hình minh họa, để dán tường nhà ngày tết. Có thuyết giả định nghề này bắt nguồn từ việc in khắc kinh Phật, ảnh hưởng từ Ấn Độ, Trung Hoa. Lại có thuyết giải thích nghề này xuất hiện là do ảnh hưởng lối chơi tranh niên họa của người Trung Hoa… Song dù thế nào thì cho đến nay, dòng tranh này đã trở thành một biểu trưng của văn hóa dân gian Việt Nam.

Thăng trầm cùng lịch sử dân tộc

Về thời điểm xuất hiện, chúng tôi nghiêng về ý kiến tranh Đông Hồ xuất hiện khoảng TK XVI, XVII (vì nếu căn cứ vào gia phả dòng họ Nguyễn Đăng đã hành nghề in tranh ở đây được 20 đời). Ở những thế kỷ trước, tranh khắc gỗ chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tôn giáo, song nó chỉ tham gia vào việc thể hiện những bản kinh Phật, in sách hoặc tranh thờ. Có lẽ phải đến TK XVI, XVII, tranh khắc gỗ mới hình thành phong cách rõ ràng và được phổ cập rộng rãi trong nhân dân. Với đề tài là những sinh hoạt thường ngày của cuộc sống cùng những ước mơ, khát vọng chính đáng của con người, tranh Đông Hồ trở thành nhu cầu cần thiết trong đời sống tinh thần của người nông dân.

Sang TK XVIII, mặc dù nội chiến và ngoại xâm liên miên, nhưng tranh dân gian phát triển khá mạnh do việc truyền bá kiến thức bằng đồ họa thế kỷ này rất rộng khắp và nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng nhân dân ngày càng cao. Đây là thời kỳ hưng thịnh của nghệ thuật đồ họa, trong đó có dòng tranh Đông Hồ, cả về số lượng ấn phẩm và trình độ kỹ thuật.

Đến TK XIX, dòng tranh Đông Hồ vẫn phát triển, đáp ứng nhu cầu chơi tranh tết của nhân dân cả nước và vẫn sử dụng các nguyên liệu và kỹ thuật truyền thống.

Đến cuối TK XIX, đầu TK XX, trước biến động của thời cuộc, tranh Đông Hồ cũng như hầu hết các loại hình nghệ thuật dân gian khác đều nhanh chóng thay đổi từ hình thức đến nội dung để phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của thời đại mới. Các nghệ nhân sáng tác một số đề tài mới nhằm tố cáo, châm biếm, đả kích chủ nghĩa thực dân. Về chất liệu, ngoài tranh điệp còn xuất hiện loại tranh hàng do sự du nhập của giấy báo nước ngoài. Loại tranh này phát triển rất mạnh từ cuối TK XIX cho đến gần Cách mạng tháng Tám. Đông Hồ trở thành nơi sản xuất tấp nập, trao đổi hàng hóa phồn thịnh, gần như độc quyền cung cấp tranh dân gian cho cả nước.

Việc in tranh ở Đông Hồ bị sút đi một cách đáng kể, bắt đầu từ năm 1940, khi Nhật chiếm đóng Việt Nam. Tháng 2 - 1947, Pháp quay trở lại chiếm đóng nước ta, nghề sản xuất tranh bị đình đốn hẳn. Pháp đốt nhiều nhà ở Đông Hồ và không ít bản khắc in tranh cũng bị tiêu hủy theo. Phải đến năm 1954, sau khi hòa bình lập lại, tranh Đông Hồ mới dần dần phục hồi, phản ánh nội dung công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và ca ngợi chiến thắng của dân tộc. Nếu như trước đây, tranh chỉ xuất hiện vào dịp tết thì từ khi hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954), nó ngày càng được giới thiệu rộng rãi hơn ở trong nước và nước ngoài.

Tổ làm tranh xuất khẩu ở Đông Hồ gồm 8 nghệ nhân do nghệ nhân Trần Nhật Tấn làm tổ trưởng, phụ trách kỹ thuật, được duy trì đến năm 1964 thì giải thể. Cho đến những năm 70 TK XX, một lần nữa tranh Đông Hồ lại có cơ hội phục hồi, làm tranh để xuất khẩu đi các nước. Lúc đầu hoạt động theo tổ, sau chuyển sang sản xuất cá thể. Tổ tranh duy trì được hơn 10 năm thì giải thể. Người Đông Hồ chuyển sang làm tranh giấy màu. Mặc dù vậy, với ý thức bảo tồn và giữ gìn nghề truyền thống, bắt đầu từ năm 1991, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế, sau đó là nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam và Trần Nhật Tấn, đã khôi phục và duy trì nghề truyền thống của làng.

Đề tài phong phú, kỹ thuật tài tình

Tranh Đông Hồ có nhiều loại, mang nhiều nội dung và đề tài khác nhau, được bổ sung liên tục qua thời gian. Nổi bật là một số đề tài sau:

Tranh chúc tụng: thể hiện mong ước của con người về cuộc sống ấm no, hạnh phúc và các nguyện vọng cầu xin khác.

Tranh lịch sử: ca ngợi các anh hùng dân tộc, các chiến công lừng lẫy trong dựng nước và giữ nước (Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Thánh Gióng, Ngô Quyền…).

Tranh thờ: các lực lượng nhiên thần, nhân thần, những nhân vật được thờ cúng (ông Công, ông Táo…).

Tranh sinh hoạt: cảnh làm ăn, sinh sống hạnh phúc, no đủ, những thói hư tật xấu… của con người trong cộng đồng làng xã (Hứng dừa, Đánh ghen, Tăng gia sản xuất, Tử tôn vạn đại…).

Tranh truyện: phỏng theo các tích truyện cổ Việt Nam và một số nước, ca ngợi chính nghĩa, cái tốt, trừng trị bọn ác độc gian tà (Sơn Tinh Thủy Tinh, Thạch Sanh, Kiều…).

Tranh phong cảnh, vui chơi: thường vẽ cảnh thiên nhiên sinh vật, đề thơ, cầu yên vui, đầm ấm, phú quý, đắc tài, đắc lộc (Tố nữ, Thả diều, Chơi đu, Nhảy đầm…).

Tranh đề tài mới: xuất hiện trong kháng chiến với cảnh sinh hoạt, chiến đấu, xây dựng bảo vệ đất nước (Ba đảm đang, Đào mương chống hạn, Bắn máy bay Mỹ…).

Tranh Đông Hồ được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau: tranh giấy, tranh trổ, tranh trổ lé, tranh đặt de, tranh đặt rơm, tranh bọc bông, tranh khắc gỗ. Phổ biến là tranh khắc gỗ với hai loại:

Tranh in: được in cả nét lẫn màu, kích thước nhỏ 19x27cm, hãn hữu là 27x38cm), còn được gọi là tranh ghém, tranh con.

Tranh tô: chỉ in nét rồi dùng bút lông tô màu, kích thước lớn, phong phú.

Vẽ mẫu tranh là khâu sáng tạo quyết định nghề làm tranh ở Đông Hồ (cũng như tranh Hàng Trống, tranh đỏ Kim Hoàng). Giấy dùng vẽ mẫu là giấy dó, giấy bản dai bền (thường sử dụng một loại giấy cho các bản khắc trong một tranh để hạn chế sai số). Mẫu tranh thường được thể hiện theo công đoạn sau: sắp xếp người, cảnh vật trong một bức tranh rồi vẽ rời từng mảng và hình độc lập, các chi tiết phụ (người, vật, cảnh) và can ghép thành tranh cho hợp lý. Dùng cách này có thể lưu lại các mẫu vẽ để thực hiện các tranh khác nhau theo kiểu chọn mẫu và lắp ghép theo ý đồ nội dung. Cũng có cách vẽ mẫu tranh khác: phác vẽ bố cục tranh rồi sửa hình và cân thành mẫu tranh sau đó vẽ bản in nét rồi chia, đánh dấu các miếng màu. Cách này thuận tiện ở chỗ đơn giản hơn, sắc độ tranh có thể đa dạng hơn tùy vào người khắc ván in… Khi vẽ mẫu, người thợ thường sử dụng bút lông, mực tàu, giấy bản mỏng…

Nghệ nhân khắc ván (bản in tranh) là người có kỹ thuật chạm khắc giỏi, tinh tế, tay nghề cao, được chọn lựa cẩn thận.

Ván in có 2 loại: ván in màu và ván in nét (để làm tranh in hoặc tranh tô). Ván in nét làm bằng gỗ thị đã thớ, tạo nét tinh vi, mảnh nhỏ, bền hoặc gỗ thừng mực nhẹ, nạc mềm, dễ khắc nhưng ít bền. Ván in màu làm bằng gỗ dổi, gỗ vàng tâm nhẹ, thớ xốp mềm, hút màu tốt, giữ màu chuẩn. Ván in thường được dùng lâu dài. Với nhiều dòng họ, gia đình, ván in trở thành vật gia bảo, gia truyền nên gỗ khắc ván thường được lựa chọn loại tốt, bền, ổn định nét và thường được gia giảm những điều kiện khác để tăng độ bền, nét. Nhiều trường hợp gỗ được ngâm tẩm nhiều năm (trên dưới 20 năm), rồi xẻ trước 1 đến 2 năm cho khô mới dùng, tránh được cong, vênh, nứt vỡ…

Dụng cụ khắc ván in gồm bộ đục thép (gọi là bộ ve khắc) bao gồm khoảng trên dưới 40 chiếc, thân tròn hoặc vuông với 4 kiểu loại, có loại lưỡi cong nhiều, lòng máng (ve móng), loại lưỡi lòng máng thân uốn cong (ve dẫy nền)… Mỗi kiểu loại chừng 10 chiếc, nhiều cỡ to nhỏ khác nhau (sau này, thợ còn dùng thêm dao mũi nhọn, mài vát một má). Thợ khắc ván thường chỉ gọi là 2 loại: ve chặn và ve dẩy.

Bàn khắc ván cao khoảng 30cm, mặt bàn rộng khoảng 60cmx50cm, dày khoảng 8cm, là một tấm gỗ sơ ráp, không bào nhẵn. Khi khắc, thợ trải chiếu ngồi, khắc bản in trên mặt bàn. Khắc bản nét trước, lấy mẫu rồi khắc bản màu.

Màu in tranh Đông Hồ được lấy từ khoáng sản, thảo mộc tự nhiên và đặc biệt là được chế biến rất công phu. Màu trắng điệp (dùng bồi nền, pha trộn các màu, tạo sắc lung linh cho tranh) được làm từ vỏ điệp (vùng Quảng Yên, Quảng Ninh), rửa sạch giã nhỏ thành 3 loại (thô, vừa và lừa), thường giã nhỏ thành bột, nắm lại, làm đến đâu thái đến đấy. Màu mực đen (dùng in nét, màu trung tâm, tạo sự chắc khỏe) là nhờ lá tre đốt thành than, nghiền nhỏ, ngâm ủ kỹ với nước cho nhuyễn mịn. Sỏi son (tạo sự chân chất, dung dị) được lấy ở vùng Hiệp Hòa, Tân Yên, tán nhỏ thành bột, dùng bồi giấy và in tranh. Màu vàng hoe (tạo sự tươi sáng) lại chính là màu hoa hòe (ở Thuận Thành), sao nấu với nước, cho thêm phèn chua, bã tán nhỏ thành bột được màu vàng cháy, nước hòe đúc tẩm với bột điệp thành bột cái vàng. Còn màu xanh thạch (tạo sự thanh bạch) được chế biến bằng chanh, khế xát vào mâm thau cho lên gỉ xanh, lấy gỉ xanh đánh với nhựa thông tán nhỏ và hồ nếp đặc được màu xanh đá, hòa với bột hòe được màu xanh lá cây, màu hoa lý...

Khi in, thợ có thể pha chế màu thành các sắc độ hoặc in chồng màu để tạo màu chuẩn cho bức tranh. Màu được hòa bằng keo bột nếp, keo da trâu lỏng. Người thợ trải chiếu ngồi, bìa in (là khung vuông tre hoặc gỗ rộng 45x60cm, cao khoảng 16cm, dùng để phết màu) để bên phải, giấy in trước mặt. Người thợ dập ván in lên mặt bìa in, đặt úp ván xuống giấy in, giấy dính vào ván. Thợ ngửa ván in, dùng xơ mướp khô đã xoa nến, xoa đều mặt trái tranh rồi quay úp ván, bóc tranh ra, sau đó phơi trên sào. Như vậy là hoàn tất sản phẩm tranh.

Trước thay đổi của thời cuộc

Tranh dân gian Đông Hồ đã tồn tại khá lâu trong đời sống, sinh hoạt, văn hóa, xã hội Việt Nam, có vị trí khá vững trong tâm hồn, tình cảm của người dân Việt Nam và một số người nước ngoài. Như nhiều loại hình văn hóa dân gian khác, tranh Đông Hồ cũng đã trải qua thăng trầm của thời gian, những thử thách của sự phát triển xã hội trong từng bối cảnh cụ thể. Hiện, tranh Đông Hồ đang bị thu hẹp về thị trường, song nó vẫn tồn tại và được duy trì trong đời sống. Tuy nhiên, có thể nói, nghề tranh Đông Hồ đang bộc lộ những hạn chế và gặp nhiều áp lực trong quá trình cố gắng, duy trì và phát triển. Đó là:

Sự phát triển kinh tế chung của cộng đồng (làng) chưa cao, chưa đồng đều. Vì vậy, việc đầu tư vốn phát triển ngành nghề còn hạn chế, thiếu bền vững.

Vì là nghề thủ công tinh xảo nên khó áp dụng khoa học công nghệ hiện đại, việc sản xuất tranh không có năng suất cao và tốn công sức.

Môi trường sản xuất và tiêu thụ tranh có những biến động theo hướng xấu: tiếng ồn, phế thải phế liệu, khí thải của các lò gạch, hệ thống nước thải chưa tốt… gây ô nhiễm môi trường, tác hại cho sức khỏe người làm nghề.

Các nghệ nhân giỏi ngày càng ít đi, sự trao truyền, học hỏi nghề không thật dến nơi đến chốn.

Thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước ngày càng thu hẹp trong sự cạnh tranh của ngày càng nhiều các loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian và hiện đại khác. Việc tìm đầu ra cho sản phẩm này hết sức nan giải.

Các tổ chức, cơ quan quản lý chưa thực sự có đường hướng phát triển đúng đắn, phù hợp cho các làng nghề thủ công, trong đó có làng tranh Đông Hồ.

Sự xuất hiện nhiều sản phẩm tranh hàng chợ làm nhanh, làm ẩu, ảnh hưởng xấu đến thương hiệu tranh Đông Hồ, làm giảm sự thu hút khách hàng, mặc dù sự phát triển du lịch hiện nay khiến gia tăng khách du lịch - đầu mối tiêu thụ tranh tiềm năng…

Với những thuận lợi và đặc biệt những hạn chế trên, việc duy trì và phát triển nghề làm tranh Đông Hồ là cực kỳ khó khăn, đòi hỏi những giải pháp đồng bộ về định hướng khảo sát tổng thể; chính sách ưu đãi, hỗ trợ; đầu tư cho sản xuất và mở thị trường tiêu thụ thường xuyên; các chính sách xã hội đối với làng nghề; sự phối hợp đồng bộ giữa những người làm nghề với nhau và với các đối tượng khác để đảm bảo chất lượng tranh cổ…

Tranh Đông Hồ từ lâu đã được coi là một trong những biểu trưng của văn hóa dân tộc, tên nghề cũng như tên làng đã trở thành một thương hiệu danh tiếng. Vì thế duy trì, phát triển nghề làm tranh Đông Hồ không chỉ nhằm cứu sống một làng nghề mà còn chính là nhằm bảo tồn phát huy giá trị tinh tuyển đặc trưng của một thể loại tranh độc đáo, góp phần vào thúc đẩy sự đa dạng văn hóa trong quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đặc biệt, ở cái nôi di sản và di tích như Bắc Ninh, trong một quần thể di tích văn hóa đặc sắc trải rộng, không thể không có làng tranh Đông Hồ, nghề tranh Đông Hồ. Tranh Đông Hồ đã như một trong những chứng chỉ sinh động của bản sắc văn hóa Việt Nam. Sở dĩ có thể nói như vậy là vì căn cứ vào giá trị biểu trưng (nội dung, nghệ thuật, kỹ thuật) mà tranh Đông Hồ đã gây dựng nên; căn cứ vào quy trình sáng tạo tranh đặc biệt trong suốt hành trình dài lâu theo lối truyền nghề gia truyền (hoặc theo dòng họ). Tranh Đông Hồ có những chuẩn mực và thành tựu mà các dòng tranh khác không thể có. Người làm tranh Đông Hồ cũng có những bí quyết riêng về tạo mẫu, kỹ thuật khắc, in, cách tìm và chế tác nguyên liệu… mà những người làm nghề tranh khác không có. Điều đó tạo nên những giá trị có một không hai của tranh Đông Hồ và của làng nghề tranh Đông Hồ.

Trong bối cảnh hiện đại hóa, toàn cầu hóa với những đổi thay vũ bão hàng ngày, hàng giờ thì sự xuất hiện của những sản phẩm dân gian có tính chất tương đối ổn định, định hình như tranh Đông Hồ, với kỹ năng làm nghề điêu luyện, kỹ thuật tạo tác tinh tế, chất lượng sản phẩm cao, thực sự tạo nên những biểu trưng văn hóa, thể hiện vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng và cần thiết trong đời sống xã hội cộng đồng.

Hiện tại, tranh Đông Hồ đang đứng trước nguy cơ mai một do nhiều nguyên nhân, trong đó quan trọng là sự biến đổi nhanh chóng làng quê theo hướng đô thị hóa, sự thu hẹp thị trường tiêu thụ và sự mất mát sản phẩm, do không đảm bảo quy trình cổ truyền. Do vậy, để khôi phục và phát triển làng nghề, phát triển sản phẩm tranh Đông Hồ với tư cách là một di sản văn hóa, một biểu trưng văn hóa, rất cần có những giải pháp đồng bộ và chương trình kế hoạch hành động cụ thể, khả thi.

Nguồn : Tạp chí VHNT số 343, tháng 1-2013

Tác giả : Hồng Ngân Thanh

Ý kiến bạn đọc

Loading.....

(Vui lòng điền đầy đủ thông tin và gõ nội dung bằng tiếng Việt có dấu)

Bài viết liên quan