Nghệ thuậtMỹ thuật-Kiến trúc

Thứ Sáu, 15/02/2013 | 00:00 GMT+7

CHIẾC KHĂN PIÊU CỦA NGƯỜI THÁI

 

Người Thái đen ở Tây Bắc gọi chiếc khăn đội đầu của phụ nữ là piêu hay kút piêu (tên của một hoa văn). Còn khăn piêu là cách gọi của người Kinh. Chiếc khăn đội đầu nói chung và khăn piêu của người Thái đen nói riêng luôn mang những ý nghĩa biểu tượng nhất định về truyền thống văn hóa tộc người. Khăn piêu là vật biểu tượng của tâm linh, do giới thày mo bảo trợ. Những hoa văn thêu trên khăn, chủ yếu biểu đạt về vòng đời của con người, với bốn môtip chính: xai khớ, xai peng, kút piêu và ta leo. Mỗi hoa văn có chức năng, nội dung và ý nghĩa  riêng.

Hoa văn của piêu được thiết kế trên những hình học: vuông hoặc chữ nhật, nằm ở hai đầu khăn. Do đó, khi đội, một đầu khăn trùm trên đỉnh đầu rủ xuống trán, đầu khăn còn lại thả xuống sau gáy để hở phần trang trí hoa văn. Đoạn giữa khăn thường để nguyên vải chàm thô. Khăn piêu là sản phẩm của nghề dệt thủ công bằng sợi bông, khổ rộng chừng hai gang tay (40cm). Vải được chọn làm khăn piêu là những tấm có sợi nhỏ đều, mịn màng. Sau đó, họ cắt rời thành từng chiếc khăn rồi đem nhuộm chàm. Kỹ thuật và quá trình nhuộm vải phải trải qua nhiều khâu, nhiều bước tuần tự khá tỉ mỉ. Để có màu đen ngả tím than, sau khi nhuộm chàm xong người ta nhúng tấm khăn vào nước vỏ cây hoa ban, gọi là láng (tiếng Kinh gọi là tôi). Chiếc khăn đã qua bước láng sẽ bền màu và có được sắc độ cần thiết. Phần lớn khăn piêu có khổ gần bằng nhau (trừ khăn của các em gái, thường ngắn hơn), ngắn, dài tùy thuộc vào ý thích của mỗi người phụ nữ. Họ đo chiều dài khăn bằng một sải tay, thông thường từ 1,50m đến 1, 60m với khổ rộng 40cm.

Khăn piêu muốn đẹp phải do nhiều yếu tố tạo nên. Trong đó, chỉ màu để thêu đóng vai trò quan trọng hơn cả. Nếu tấm vải làm khăn được dệt  từ sợi bông thì chỉ để thêu khăn là loại sợi tơ tằm truyền thống của người Thái. Ngày nay, có loại chỉ thêu của nhà máy được chị em rất thích, nhưng sợi tơ tằm vẫn được ưa chuộng hơn cả. Chỉ tơ tằm vừa bền sợi, vừa bền mầu, tạo nên sắc màu óng ả, nuột nà tăng phần vẻ đẹp nhuần nhị của đồ án hoa văn. Những gam màu của chỉ thêu được dùng nhiều là xanh lá cây, đỏ tươi, đỏ sẫm, tím, vàng, hồng và trắng. Có vải làm khăn tốt, màu chỉ thêu đẹp, chưa hẳn là đã có khăn đẹp. Muốn có khăn đẹp còn phụ thuộc vào kỹ thuật của người thêu. Hơn nữa, quan niệm về cái đẹp của khăn còn tùy thuộc vào từng vùng, từng địa phương, nhất là khiếu thẩm mỹ và sở thích của từng người. Khăn piêu vùng Yên Châu khác vùng Mai Sơn, Sơn La... do đồ án thêu trên khăn piêu quy định. Người sành có thể phân biệt được rõ ràng khăn piêu của từng vùng.

Tôi chọn khăn piêu của vùng Điện Biên làm đối tượng nghiên cứu. Đây là vùng theo Hoàng Lương trong cuốn Hoa văn Thái cho rằng: "Hoa văn mang cốt cách của người Thái trên khăn piêu thì vùng Điện Biên là tiêu biểu hơn cả".

Chiếc khăn dài được chia làm bốn phần, mỗi đầu khăn lấy một phần để trang trí. Từ một phần ở đầu khăn này chia làm đôi, một ô dọc ở giữa để trang trí xai peng. Phần còn lại của mỗi bên được chia làm bốn ô tính từ trên xuống: bốn dây xai khớ chạy dài vào giữa khăn (số 1), dây xai peng (tơ hồng) vấn vít nhau (số 2), bốn kút piêu nằm bên ngoài mép khăn, nối liền dây xai khớ chạy sâu vào giữa khăn (số 3), hoa văn ta leo sáu múi, hoặc tám múi (số 4), hú piêu thắt nút bốn múi, có một múi nhọn nhô lên như cúc vải áo ta (số 5), đường viền mép khăn dọc và ngang (số 6). Khăn piêu của người Thái đen mỗi đầu có hai phần, đây là phần bên trái.

Dây xai khớ là hoa văn biểu tượng về sức khỏe của con người - mỗi người có một xai khớ riêng. Nó được ví như kho nhiên liệu của sự sống đằm mình qua bình dầu lạc, mà dây xai khớ là con bấc. Đó là năng lượng của sức sống được huy động trong toàn cơ thể, chạy về theo từng mạch máu, đường gân, thớ thịt để hội tụ lại ở đuôi dây xai khớ. Dây xai khớ gồm hai tao, chỉ trắng và đỏ, luồn chéo nhau, đan qua từng sợi của tấm khăn. Kỹ thuật thêu dây xai khớ của ch em phụ nữ Thái đen thật tài tình, khéo léo đạt độ tinh xảo, chính xác về thẩm mỹ, làm nổi rõ dây xai khớ trên nền của tấm khăn màu chàm. Người nhìn cứ ngỡ, dây xai khớ dùng hồ dán vào tấm khăn, nhưng không phải vậy. Nó được mũi kim đan luồn qua từng sợi vải, dính chặt vào tấm khăn mà khi vò giặt qua nước, đường chỉ đỏ xanh của dây xai khớ vẫn nằm nguyên vẹn như lúc mới thêu. Đó là điều kỳ diệu qua đôi tay của chị em phụ nữ Thái:

Ôm chồng cũng giỏi

Thêu thùa dệt vải nuôi con cũng tài

Kút piêu là một hình tròn như đồng xu đầy mặt, có 8 múi giống quả bông cắt ngang. Cuống của quả bông - chân kút piêu là dây xai khớ chạy sâu vào giữa khăn. Giá trị của khăn piêu là ở chỗ có bao nhiêu kút piêu xếp hàng ở mép ngoài khăn. Ca dao có câu:

Ba kút piêu tặng bá

Năm kút piêu biếu thím chồng

Để làm kút piêu, người ta dùng vải tết thành chiếc cúc to bằng đầu ngón tay giữa, khâu lại làm cốt; rồi dùng vải đỏ bọc lại, khâu chân; thêu tám múi trên mặt, bốn múi chính to và bốn múi phụ nhỏ, múi phụ nằm xen giữa múi chính. Múi chính thêu chỉ màu trắng, bốn múi phụ thêu hai màu chỉ khác nhau: hai xanh, hai tím xen kẽ làm nổi rõ bốn múi lớn màu trắng. Kút piêu đơm vào mép ngoài riềm khăn nối liền với dây xai khớ khi khăn đã hoàn thiện.

Kút piêu là hình ảnh của ngọn lửa cháy đỏ sáng, rực rỡ biểu tượng về sức sống cường tráng, mãnh liệt của con người. Kút piêu gắn vào đầu dây xai khớ, cho nên ngọn lửa cháy là do kho nhiên liệu xai khớ cung cấp. Đời người có lúc khỏe mạnh, lúc ốm đau, đến tuổi già thì chết tức là khi dây xai khớ đứt. Quá trình đó được người Thái biểu tượng bằng kút piêu và dây xai khớ. Họ căn cứ vào ngọn lửa cháy ở kút piêu mà đoán biết sức khỏe của người đó. Dây xai khớ rắn chắc, bền chặt thì ngọn lửa kút piêu cháy sáng là người đó khỏe mạnh. Ngược lại, dây xai khớ có vấn đề trục trặc, cạn nhiên liệu của sự sống thì ngọn lửa kút piêu cháy yếu ớt là người đó ốm đau, bệnh tật. Khi dây xai khớ chao đảo, ngọn lửa kút piêu cháy yếu ớt, ánh lửa bị mờ thì người đó ốm đău nặng. Thày mo theo dõi diễn biến từng chi tiết ở ngọn lửa kút piêu đầu dây xai khớ mà đoán biết về trình trạng của con bệnh, đặt lễ cúng bái, dùng phép thuật, thần chú trừ tà đuổi ma, cầu cứu thần thánh để cứu chữa. Đến khi con bệnh ốm quá nặng, không cúng bái cứu chữa được nữa, dây xai khớ đứt, ngọn lửa kút piêu tắt là người đó qua đời.

Quan niệm về ngọn lửa đầu dây xai khớ biểu tượng cho sự sống của con người, nên khi một người qua đời, người Thái dùng một sợi bấc tết lại (cuộn thừng) biểu tượng dây xai khớ bọc sáp ong ra ngoài, hoặc để sợi bấc qua đĩa dầu lạc đặt trên quan tài. Ngọn lửa đầu dây bấc kút piêu cháy sáng, tượng trưng cho sự sống cả cuộc đời của người đó. Khi quan tài hạ xuống huyệt, ngọn lửa tắt thì sự sống của người đó mới thực sự không còn trên trái đất này. Quan niệm này cũng tồn tại ở người Kinh. Song, ngày nay người Kinh không dùng ngọn lửa "sự sống" ở đầu dây bấc đặt ở đĩa dầu lạc nữa, mà thay bằng ngọn lửa ở đầu cây nến cắm trên quan tài: đàn ông 7 cây, đàn bà 9 cây.

Xai peng (xai là dây - peng là tình) được người Thái ví như dây tơ hồng của người Việt (Kinh). Đó là sự cụ thể hóa về hai chất nguyên khí của po me (bố mẹ) - chất đã tạo ra con người - người Thái. Hoa văn xai peng được biểu tượng bằng hai sợi dây, nhưng được dứt ra từng đoạn mà xoắn xuýt, chực muốn bện vào nhau như cuộn thừng.

Đây là biểu tượng mang yếu tố tâm linh: dây rồng - tiên (nòi giống), dây bùa hộ mệnh, dây của con tim - của tình cảm (xai chựa xai peng), dây trói buộc trái tim của đôi lứa (xai chưa kiệu, húa có nha mai). Người Thái trân trọng, yêu quý gìn giữ và nâng niu xai peng bằng nhiều cách thức khác nhau.

Trước hết là đặt tên cho một dòng dân ca lớn của tộc người, gọi là khắp xai peng (hát tình yêu), tiếng hát đầu cửa miệng, vang lên mọi lúc, mọi nơi, cả người già và lớp trẻ. Do đó làn điệu khắp xai peng là cơ sở đặt nền móng cho nền âm nhạc dân gian của người Thái ở Tây Bắc.

Thứ hai, xai peng là hoa văn thổ cẩm, trang trí trên những đồ dùng, vật dụng của cuộc sống như: mặt chăn, riềm gối, đồ đan lát, đồ gỗ...; và trang trí trong nhà như: nóc đố, cửa chính, cửa sổ... Nhưng đặc biệt và hay được nhắc đến hơn cả, đó là hoa văn xai peng thêu trên khăn piêu của phụ nữ Thái đen. Ý nghĩa của dây tình xai peng là móc nối, đan xen, trao đổi tình cảm nhưng không hòa đồng giữa hai chất (trai gái). Ý niệm này được lưu truyền trong tâm thức của từng thế hệ người Thái từ xưa cho đến  nay. Chẳng hạn ở lễ cưới, trong phòng hợp cẩn, cô dâu chú rể quỳ trước bà mối, bà mối tay trái cầm quả chuối, tay phải cầm nắm xôi, rồi chéo hai tay lại, nắm xôi trao cho chú rể, quả chuối trao cho cô dâu. Sự chéo hai tay của bà mối là tinh thần của dây tình xai peng. Tinh thần dùng hai tay vắt chéo nhau làm biểu tượng trong lễ thành hôn này, ngày nay ở người Việt được biểu tượng bằng việc dùng chữ cái tên cô dâu và chú rể viết lồng vào nhau trang trí trong phòng cưới. Đó là tâm thức về dây tơ hồng của người Việt.

Với người Thái đen, khăn piêu có trang trí dây tình xai peng khi tặng cho bạn gái cùng hoặc khác tộc người là sự trao đổi tình cảm, nghĩa là con người tôi luôn trong tâm tưởng của bạn và ngược lại hình ảnh của bạn như chiếc khăn piêu luôn bên tôi. Dây tình xai peng thêu trên khăn piêu của cô gái, luôn được nâng niu như gìn giữ niềm trung trinh, tình yêu chung thủy của lứa đôi. Cô gái Thái đen đội khăn piêu trên đầu càng xinh duyên thêm và dây tình xai peng là chiếc bùa yêu, chất men tình rạo rực, gợi cho tâm hồn cô luôn nghĩ đến lời hẹn ước với bạn tình: đón nhận, hiến dâng.

Do tính chất của dây tình xai peng trên khăn piêu của cô gái Thái, nên khi chiếc khăn đánh rơi, hay theo gió cuốn, chàng trai người Cống khao đa tình nhặt được, tâm trạng anh ta xao xuyến bồi hồi, hai tay nâng chiếc khăn piêu lên trước ngực, hình dung đến người đẹp, xúc cảm làm bài hát (dân ca) ngợi ca, gửi tình theo gió, may ra được người đẹp để ý tới. Từ bài dân ca một câu nhạc, nhạc sĩ Doãn Nho đã phỏng tác thành bài hát hoàn chỉnh Chiếc khăn piêu, rằng:

...Khăn piêu đây thêu chỉ hồng

Theo gió cuốn bay về đây

Vương trên cây

Ơ - chị ơi ! Tới đây

Nhận chiếc khăn đẹp này...

...Chiếc khăn đây làm mối

Nối duyên nhau thời tôi chờ...

Dây tình xai peng thêu trên khăn piêu để cô gái đội lên đầu cất giữ, đó là biểu tượng của lứa đôi: tình yêu nồng nàn và sự sống sôi động, như hai sợi dây tình quấn quýt bện lấy nhau mãi mãi, như đôi sam ôm nhau không bao giờ rời xa, cho đến khi qua đời thì dây tình xai peng mới chia lìa. Khi ấy, chiếc khăn piêu được cắt làm đôi, mỗi người một nửa đặt vào quan tài, gối lên đầu, đem theo sang thế giới bên kia. Nếu cụ ông đi trước thì khăn piêu được cắt một nửa mang đi, còn một nửa kia cụ bà để dành, gối đầu giường. Phong tục này ở người Thái, ngày nay vẫn còn nguyên ý nghĩa của nó trong đời sống sinh hoạt.

Ta leo của người Thái là một hoa văn như hình hoa thị, vật hèm cây nêu của người Kinh. Ta leo là vật căm (cấm) có nghĩa: cấm kỵ, kiêng dè, vật trừ đuổi tà ma, ngăn ngừa dịch bệnh, diệt trừ sâu rầy, bảo vệ mùa màng, hoa trái đem lại sự no đủ cho con người. Ta leo được thể hiện trong hai trường hợp: trang trí ở hoa văn thổ cẩm; đan bằng nan tre, nứa.

Ta leo đan bằng nan tre sẽ tạo nên vật căm bằng hình mắt cáo ở giữa, ngoài hai đầu của mỗi nan tre giao nhau, còn tạo nên những hình 3 góc như cánh sao ở các phía. Nếu dùng 6 nan tre thì ta leo có hình 6 cánh, 8 nan tre thì ta leo có 8 cánh. Loại 6 cánh hay 8 cánh là do quy định chức năng đẳng cấp của ta leo. Loại ta leo 6 cánh là dùng vào việc lễ thức nhỏ của gia đình, hay của cá nhân như: ta leo thêu trên khăn piêu ở vùng Điện Biên. Còn loại ta leo hình 8 cánh là vật căm của thày mo thêu trên cổ áo ông ta và dùng vào những việc trù yểm lớn trong lễ thức tâm linh. Kèm theo đó, là những lời thần chú, bắt quyết thần bí, bí hiểm gọi là căm dam (linh thiêng, huyền bí), điều không được nói ra, động đến thần thánh, ma quỷ, muốn biết phải thông qua thần chú của thày mo. Vào những ngày căm của lễ xên mường (cúng mường) trước vụ xuống đồng hoặc khi bản mường xảy ra nạn dịch bệnh, tai ương... thì mo mường lập tức sửa soạn lễ cúng, sai đem ta leo treo vào những vị trí hiểm yếu quanh bản, mường và ở các ngả đường. Việc treo đó để cấm người vào ra, trong đó có một số hình ta leo 8 cánh của thày mo để trừ đuổi tà ma, triệt tiêu hiểm họa. Khi thấy ta leo treo hai bên đường vào bản thì khách lạ sẽ không vào nữa, nếu cứ vào sẽ bị bắt vạ, trừ khi có người nhà xin phép ra dẫn vào.

Nhà ở người Thái không có cổng, không có vườn; bản thì ở theo lối tụ tập, quây quần các nhà làm cách nhau không có hàng rào, cho nên cầu thang coi như cổng nhà. Khi nhà có trường hợp phải kiêng kỵ, người ta treo hình ta leo lên ngoài cầu thang nhà để trừ đuổi tà ma, ngăn ngừa người có vía độc, tránh cho người ốm không nặng thêm, trẻ sơ sinh khỏi giật mình hoặc không khóc... Khách đến thấy hình ta leo treo trước cầu thang, biết nhà có việc căm thì không vào nữa.

Cuối năm chuẩn bị làm nương cho vụ xuân, vợ chồng lên đồi tìm được một mảnh đất ưng ý. Sau khi đã đi quanh kiểm tra lại một lần nữa rồi ra đứng ngoài bờ, quay mặt vào giữa nương, chắp tay kính cáo với thổ thần đất đai. Chúng tôi là vợ chồng Lò Văn A, đã xin mảnh đất này làm nương:

Trồng bông sai quả

Trỉa hạt trái nhiều

Thổ thần giúp đỡ

Cuối mùa lễ tạ

Khấn xong thì đi vào chính giữa khoảnh đất, phát một đám bằng cái nia. Vợ tìm cọc cắm xuống đó, chồng treo ta leo lên, coi như thông báo rằng: mảnh đất này đã có chủ, cấm người khác động đến. Hoặc người ta vào rừng tìm gặp được một cây gỗ tốt, ý định sẽ đẵn về dùng, gặp tổ ong mật trên cây hay gặp một đoạn suối có nhiều cá... nhưng chưa lấy được, phải đợi gọi thêm người nhà. Trong trường hợp này, người ta cắm cạnh đó một cọc có gắn hình ta leo và trên đầu cọc buộc một cái que chỉ về vật cần sở hữu. Người đi sau thấy của ngon đấy, như tổ ong mật chẳng hạn cũng không dám lấy. Vì đã có ta leo trông coi trù yểm, thần hồn của vợ chồng người đi sau run sợ, không dám lấy. Ta leo còn cắm ngoài ruộng, ngoài nương, nơi khu rừng hay đến kiếm củi, tìm thức ăn, để trừ đuổi tà ma, triệt tiêu hiểm họa. Người vào rừng thỉnh thoảng thấy có hình ta leo treo ở cây thì yên tâm không lo sợ gì nữa. Ngày xưa, khi con người chưa nắm biết khoa học thì người ta sống theo niềm tin vào vật căm. Những năm mới giải phóng, tôi lên công tác ở Tây Bắc thấy dọc hai bên đường số 6 có những quán tự giác, hàng đã đề giá. Khách dùng thứ gì xong, thả tiền vào một cái túi cạnh đó và có hình ta leo treo bên vách trông coi.

Người Thái quan niệm con người sinh ra là do nguyên khí của po me - tức là ngọn lửa cháy sáng ở kút piêu gắn đầu dây xai khớ  - một quan niệm mang yếu tố khoa học có ý nghĩa sâu sắc. Như vậy, kút piêu biểu tượng cho ba nội dung. Thứ nhất là, chất nguyên khí của po me biểu đạt bằng màu âm dương. Thứ hai, bốn múi là quá trình phôi thai của sự sống (thai nhi) mà thành bốn hạt nhân, đến tám hạt nhân (tế bào), còn trước đó là hai hạt nhân. Thứ ba, kút piêu là hình ảnh của ngọn lửa cháy sáng đầu cây nến, mà sự sống do chất nguyên khí của po me tạo nên. Do những giá trị đó của kút piêu, cho nên khăn piêu lấy thước đo về giá trị bằng số lượng kút piêu trong từng nhóm để kính biếu bậc bề trên và chiếc khăn đó có tên là piêu.

Tóm lại, hình âm dương trong Kinh dịch là thuộc dạng triết học đã được đúc kết, định vị qua thuật quy chiếu của văn hóa người Việt Thường ở buổi đầu nhận thức. Còn ở người Thái, bốn môtip hoa văn mới chỉ ở ý niệm do tầng lớp thày mo tạo ra để bảo vệ thần hồn cho con người. Tuy nhiên, không chỉ có thế, đó còn là các dấu hiệu tiên niệm ở thời kỳ đầu, khi con người mới xuất hiện trí khôn, tạo ra các cung bậc của nhận thức. Khăn piêu có bốn hoa văn chính thì ta leo là vật hèm bảo vệ phần hồn, xai peng là dây tình của đôi lứa, kút piêu là ngọn lửa của sự sống và xai khớ biểu tượng về kho dự trữ sự sống của con người để cho ngọn lửa cháy sáng ở hoa văn kút piêu. Việc giải mã hàm nghĩa của bốn môtip hoa văn trên khăn piêu của người Thái đen ở Tây Bắc có thể giúp chúng ta có cơ sở cho việc giải mã hoa văn ở trống đồng của người Việt.

Nguồn : Tạp chí VHNT số 344, tháng 2-2013

Tác giả : Dương Đình Minh Sơn

Ý kiến bạn đọc

Loading.....

(Vui lòng điền đầy đủ thông tin và gõ nội dung bằng tiếng Việt có dấu)

Bài viết liên quan