Nghệ thuậtMỹ thuật-Kiến trúc

Thứ Sáu, 15/03/2013 | 00:00 GMT+7

CHÙA QUỐC ÂN, DI SẢN KIẾN TRÚC CHÙA THÁP ĐỘC ĐÁO

Được mệnh danh là vùng đất di sản, trong nhiều năm qua, Huế đã gìn giữ hệ thống kiến trúc cung đình triều Nguyễn với hơn 30 di tích và quần thể di tích, trên 50 phủ đệ của các vương, công cổ kính và nhiều chùa tháp độc đáo mang đặc trưng của vùng đất kinh kỳ. Trong số đó có chùa Quốc Ân, tổ đình cổ xưa của thiền phái Phật giáo Lâm Tế ở Đàng Trong suốt nhiều thế kỷ, nơi bảo lưu những giá trị mang đậm bản sắc văn hóa Phật giáo Huế.

 

1. Nơi khai sơn Phật giáo Lâm Tế Đàng Trong

Chùa Quốc Ân được hình thành từ cuối TK XVII, do tổ sư Nguyên Thiều thuộc Thiền phái Lâm Tế thế hệ thứ 33, quê ở Trung Quốc, sang Đại Việt hoằng pháp. Năm Thái Tông hoàng đế năm thứ 17 (1665), Nguyên Thiều đi theo thuyền buôn đến Quảng Nam, lưu trú tại phủ Quy Ninh, dựng chùa Thập Tháp Di Đà (Bình Định). Sau đó, ngài đến Thuận Hóa lập am Vĩnh Ân (về sau là chùa Quốc Ân), xây tháp Phổ Đồng. Năm 1687, ngài phụng mạng ý chỉ của chúa Nguyễn Phúc Thái trở về Quảng Đông rước hòa thượng Thạch Liêm sang truyền giới cho chư tăng Đại Việt. Lúc trở về, mặc dù không rước được hòa thượng Thạch Liêm nhưng thiền sư đã thỉnh nhiều tượng phật, chuông khánh. Năm 1695, thiền sư phụng sắc trú trì chùa Phổ Thành, làng Hà Trung (1). Trong thời gian này, thiền sư đã thỉnh một tượng Quán Thế Âm Bồ Tát lớn từ Trung Quốc và nhiều tượng, pháp khí về Đại Việt. Thiền sư viên tịch năm 1728, thọ 81 tuổi. Hiển Tông hoàng đế ban cho thụy hiệu Hạnh Đoan thiền sư và làm một bài ký ghi chép công đức của thiền sư (2).

Sau khi lập am Vĩnh Ân một thời gian ngắn, thiền sư Nguyên Thiều đã được chúa Nguyễn Phúc Tần (1620-1687) ban ngân khoản để xây dựng chùa. Sau khi chúa Nguyễn Phúc Tần mất, con trai của ông là Nguyễn Phúc Thái nối ngôi (1687-1691), thường gọi là Ngãi Vương. Chúa Nguyễn Phúc Thái tiếp tục trọng vọng tổ sư Nguyên Thiều, ông đã ban lệnh miễn giảm thuế đất ruộng cho nhà chùa và đổi tên chùa là Quốc Ân tự, đồng thời ban tấm biển “Sắc tứ Quốc Ân tự” (3). Cũng trong thời gian này, chúa phái tổ Nguyên Thiều về Quảng Đông, Trung Quốc, thỉnh danh tăng là hòa thượng Thạch Liêm (ở chùa Trường Thọ) đến giảng pháp tại Thuận Hóa. Tuy nhiên, tổ Nguyên Thiều không mời được hòa thượng Thạch Liêm đến Đàng Trong, chỉ thỉnh nhiều pháp khí, chuông tượng, kinh sách khi trở lại...

Năm 1728, tổ Nguyên Thiều viên tịch, hòa thượng Minh Hoằng Định Nhiên kế vị trụ trì chùa Quốc Ân và có nhiều đóng góp trong việc kiến thiết chùa. Trải qua nhiều lần trùng tu theo sự thăng trầm của thế cuộc, có lúc chùa chỉ lưu giữ được một số bia ký, văn khế và một số tượng, pháp khí. Đến những năm về sau, khi triều đình nhà Nguyễn cai trị đất nước, nhiều phật tử là tầng lớp quý tộc, vương công đã hảo tâm cúng dường cùng với sự bảo trợ của triều đình, chùa Quốc Ân được xây dựng to lớn và chú tạo các tượng phật, tượng bồ tát, tượng thánh, pháp khí, long khám thờ các vị chư tổ... Mặc dù trải qua nhiều đợt tu sửa, chùa vẫn giữ được kiến trúc truyền thống mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn. Cũng trong khuôn viên chùa, nhiều tháp mộ được xây dựng cổ kính, điểm tô cho chùa thêm phần uy nghi.

2. Nơi bảo lưu những giá trị văn hóa độc đáo

Kiến trúc chùa tháp

Chùa Quốc Ân tọa lạc trên vùng đất cao ráo thuộc chân núi Hòn Thiên (còn gọi là núi Bân hay núi Tam tầng). Toàn bộ các công trình của chùa phân bố dọc theo triền đồi. Khu vực tòa chính điện, nhà tăng, nhà khách, nhà thờ linh tạo thành hình chữ “khẩu”. Chùa quay mặt về hướng tây bắc, từ ngoài vào là cổng tam quan, sau khi qua một khoảng sân rộng phía trước, là đến hệ thống bậc cấp dẫn vào sân trong của chùa. Tại đây, bên trái chùa là bia đá Quốc Ân tự, đối diện về bên trái là tấm bia không có chữ. Cạnh hai bia đá là hai am thờ Thánh mẫu và Ngũ hành, tiếp đến là ngôi điện thờ Phật, nhà tăng, nhà khách, nhà thờ linh. Sau lưng chùa là hệ thống các mộ tháp, nơi an táng các vị hòa thượng trú trì chùa qua nhiều thế hệ.

Kiến trúc của tòa điện Đại hùng gồm tiền điện và chính điện. Tòa điện là ngôi nhà rường được kiến trúc theo “trùng thiềm điệp ốc”, với tiền điện gồm 5 gian 2 chái và chính điện gồm 3 gian 2 chái kép, cùng tọa lạc trên một nền chính. Đây là kiểu kiến trúc thường thấy trong các cung điện ở Huế. Kiểu kiến trúc này khiến ngôi tòa điện rộng lớn và thoáng đãng. Để nối liền không gian giữa tiền điện và chính điện đồng thời có thể hứng nước mưa từ mái sau tiền điện và mái trước chính điện, người ta đã tạo một máng xối ở giữa hai phần mái và bên dưới có trang trí hình vòm cuốn (trần vỏ cua).

Tiền điện chùa Quốc Ân trước đây được dựng với bộ khung gỗ của một ngôi nhà rường truyền thống. Tuy nhiên, qua quá trình tồn tại, ngôi nhà bị hư hỏng nặng nên đã bị triệt giải. Năm 2004, sư trụ trì chùa quốc Ân đã cho khôi phục lại tiền điện trên nền cũ (rộng 21,1m, dài 7,9m) nhưng hệ thống cột, kèo, xuyên, trính (trếnh) được làm bằng bê tông và sơn quét màu sắc như chất liệu gỗ. Riêng các đòn tay, rui, mè vẫn được làm bằng gỗ và mái lợp ngói liệt. Trang trí trên mái tiền điện với các đề tài: long chầu mặt hổ phù chính giữa đỉnh mái, bên trong mặt hổ phù thiết trí chữ “vạn”; hai đầu nóc có trang trí hồi long. Bờ mái trang trí các ô hộc vuông và chữ nhật xen kẽ nhau, bên trong các ô hộc đắp nổi nhiều đề tài hoa lá. Các đầu mái trang trí các cù giao cách điệu. Hầu hết các phù điêu trang trí trên tiền điện xây mới tại chùa Quốc Ân được làm bằng chất liệu vôi vữa và sơn quét.

Chính điện là bộ khung gỗ truyền thống với 52 cột: 8 cột hàng nhất (cao 6,3m), 8 cột hàng nhì (cao 4,5m), 18 cột hàng ba (cao 2,9m), 12 cột hàng tư (cao 2,2m), 6 cột hiên (cao 1,7m). 8 cột hàng nhất nâng đỡ 4 bộ kèo tạo thành 3 gian, mỗi gian rộng 3,9m, dài 4m; 8 cột hàng nhì đỡ các đuôi kèo hàng nhì dài 3,5m; 18 cột hàng 3 đỡ các kèo hàng 3 dài 2,1m. Hai chái trong tả, hữu rộng 3,5m, hai chái ngoài rộng 1,2m. Chung quanh được xây tường gạch bao che. Hai chái kép chính điện phía trước được xây tường gạch, trang trí đề tài tùng lộc và ngũ phúc (hình 4 con dơi chầu vào chữ phúc ở giữa).

Mái tòa chính điện được trang trí khá cầu kỳ bằng nghệ thuật khảm sành sứ. Ở giữa đầu nóc là long chầu mặt hổ phù, bên trong chứa hình chữ “vạn”, hai đầu nóc trang trí hồi long, các đầu đao trang trí cù giao cách điệu. Ở hai đầu xông là hình con dơi dang đôi cánh, miện ngậm vòng tròn. Ở những khoảng giữa các bờ mái có các ô hộc hình vuông và chữ nhật, bên trong khảm sành sứ với đề tài phong phú: hoa mai, hoa cúc, long vân, ngũ phúc, quả lựu, chữ vạn hồi văn, mai điểu, diềm mái trang trí lá đề

Bước vào chính điện, hai bên tả, hữu thiết trị bộ tượng Thập Điện Diêm vương (mỗi bên 5 tượng). Ngay trên gian giữa chính điện, có bức hoành phi bằng gỗ sơn son thếp vàng bên trong chạm nổi 3 chữ Hán “Quốc Ân tự” và chiếc ấn hình thoi, bên trong khắc 2 chữ Hán “Sắc tứ”. Đây là bức hoành do vua Minh Mạng ban cho chùa Quốc Ân vào tháng 5 năm Minh Mạng thứ tư (năm 1823). Từ hàng cột nhất gian giữa phía trong trở về trước là nơi thiết trí bàn thờ phật. Từ hàng cột thứ nhất phía trong chính điện trở về sau chùa được thiết kế một vách ngăn bằng gỗ tạo thành hậu điện (phía sau chính điện) và trổ hai lối ra vào chính điện với phía sau. Đây là khu vực dùng làm nơi thờ các vị tổ sư đã khai sơn và trú trì chùa qua các thời kỳ. Tại đây, chùa thiết trí 3 bàn thờ tổ. Bàn giữa có long khám sơn son thếp vàng, chạm trổ tinh vi; hai bên tả hữu thiết trí hai bàn thờ, bên trên có hai lớp long vị. Ngăn cách giữa ba gian và hai chái tả hữu từ hàng cột thứ nhất phía ngoài đến hết hậu điện tạo thành đông phòng và tây phòng là nơi sinh hoạt của hòa thượng trụ trì và sư quản tự (phó trụ trì).

Mộ tháp chùa Quốc Ân có mật độ dày đặc với 14 ngôi lớn nhỏ phân bố phía sau vườn chùa. Mộ tháp lớn và cao nhất gồm 6 tầng tháp, mộ tháp bé nhất chỉ cao 1 tầng. Phần lớn tháp mộ ở chùa Quốc Ân có hình bát giác, chung quanh tháp xây la thành bao bọc và có cửa để vào; phía trước tháp có dựng bia đá khắc chữ Hán, trên đỉnh tháp trang trí hoa sen. Tháp chủ yếu được xây bằng gạch và vôi vữa, trang trí đơn giản.

Chùa Quốc Ân là công trình có kiến trúc nhà rường truyền thống với hệ thống cột, kèo, xuyên, trính bằng gỗ. Chùa có kiến trúc hình chữ “khẩu” được xây dựng xen lẫn trong không gian cảnh quan cây xanh tạo nên một phong cảnh hữu tình. Kiến trúc chùa được bố trí dọc theo triền đồi từ tam quan, điện đại hùng, nhà tăng, nhà khách, nhà linh đến hệ thống tháp mộ tạo nên một quần thể kiến trúc đặc trưng của chùa Quốc Ân.

Nghệ thuật trang trí tại chùa Quốc Ân với nhiều thể loại phong phú thể hiện kỹ thuật điêu luyện của nghệ nhân xưa. Trong trang trí kiến trúc, các nghệ nhân đã sử dụng nhiều đề tài truyền thống gắn liền với đạo Phật: chữ “vạn”, chữ “vạn” hồi văn, bánh xe pháp luân, hoa sen... Nghệ thuật khảm sành sứ tại chùa khá tinh xảo bằng kỹ thuật khảm nổi với màu sắc hài hòa, các họa tiết trang trí tạo cảnh tượng không gian 3 chiều độc đạo. Nghệ thuật chạm nổi trên các hoành phi, kỹ thuật sơn son thếp vàng trên các đồ tế tự... tạo nên sắc thái riêng của ngôi chùa.

Chùa Quốc Ân là một trong những ngôi tổ đình (chùa tổ) xưa nhất của thiền phái Lâm Tế ở Thừa Thiên Huế. Từ khi hình thành và trải qua các thời kỳ, đặc biệt là thời kỳ phong kiến, chùa Quốc Ân được sự hậu đãi của các vị chúa Nguyễn cũng như các vị vua và hoàng tộc thời Nguyễn. Nghiên cứu lịch sử và kiến trúc chùa Quốc Ân, chúng ta càng rõ hơn bức tranh Phật giáo Đàng Trong giai đoạn từ TK XVII đến TK XX.

Hầu hết các vị thiền sư trụ trì chùa Quốc Ân là làm tăng cang của các “quốc tự” triều đình nhà Nguyễn, có vị trí đặc biệt quan trọng đối với nền Phật giáo Đàng Trong. Do vậy, mặc dù chùa Quốc Ân không phải là “quốc tự” thời phong kiến triều Nguyễn, nhưng vẫn có vai trò to lớn đối với đời sống tâm linh của tầng lớp quý tộc nhà Nguyễn cũng như người dân địa phương.

Thiền sư Nguyên Thiều, người khai lập am Vĩnh Ân - sau được triều đình sắc tứ Quốc Ân tự - là chư tổ có công lao to lớn trong việc truyền bá Phật giáo ở Đàng Trong. Thiền phái do thiền sư Nguyên Thiều truyền đạo đã phát triển lớn mạnh và ảnh hưởng to lớn đến Phật giáo phía nam.

Không gian cảnh quan và bố cục tổng thể kiến trúc chùa Quốc Ân mang một nét rất riêng nhưng không vượt ra ngoài những nguyên tắc phong thủy thời xưa. Chùa Quốc Ân nằm trên một đồi cao, nhiều cây cối, là chốn hội tụ linh khí theo quan niệm của người xưa. Kiến trúc chùa được lồng vào trong một không cảnh thiên nhiên nên thơ, làm cho khách vãn cảnh không thể phân biệt một cách rạch ròi đâu là công trình kiến trúc, đâu là công trình trang trí tô vẽ cho di tích. Thiên nhiên và cấu trúc chùa như hòa quyện vào nhau, đan xen nhau tạo nên một khung cảnh chặt chẽ, nên thơ, hữu tình. Trang trí ở chùa Quốc Ân bằng nhiều kỹ thuật khác nhau nhưng mang phong cách của Huế, đó là khảm sành sứ, đắp nổi, chạm lộng, với các môtip trang trí dưới nhiều dạng thể phong phú.

Tượng thờ và các di vật ở chùa Quốc Ân là những tác phẩm nghệ thuật độc đáo ghi dấu phong cách mỹ thuật của thời đại, là di sản văn hóa nghệ thuật của quốc gia. Các pho tượng ở đây có tính mỹ thuật và kỹ thuật cao, thể hiện trình độ đúc đồng và chạm khắc rất tài tình của cha ông. Các bài minh, bài thơ là những tư liệu có giá trị về nhiều mặt: lịch sử, văn học, ngôn ngữ...

Với những giá trị trên, chùa Quốc Ân xứng đáng là điểm tham quan hấp dẫn cho khách du lịch trong và ngoài nước, là nơi thu hút các nhà nghiên cứu và những ai muốn tìm hiểu về văn hóa Huế.

_______________

1. Đây là ngôi quốc tự thời chúa Nguyễn. Chùa hiện còn giữ nhiều pháp khí, tượng cổ, đặc biệt là pho tượng Quán Thế Âm Bồ Tát bằng đá, cao 2,46m, được các nghệ nhân Trung Hoa chạm trổ tinh xảo, bộ tượng Phật Di Đà bằng gỗ sơn thếp, tượng Địa Tạng bằng đồng, đại hồng chung đúc năm 1762.

2. Hà Xuân Liêm, Những ngôi chùa Huế, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2000, tr.49-52.

3. Bức hoành “Sắc tứ Quốc Ân tự” do chúa Nguyễn Phúc Thái ban tặng hiện được thiết trí tại gian giữa chính điện.

Nguồn : Tạp chí VHNT số 345, tháng 3-2013

Tác giả : Trần Tuấn Anh

Ý kiến bạn đọc

Loading.....

(Vui lòng điền đầy đủ thông tin và gõ nội dung bằng tiếng Việt có dấu)

Bài viết liên quan