Nghệ thuậtMỹ thuật-Kiến trúc

Chủ Nhật, 15/09/2013 | 00:00 GMT+7

TRANG TRÍ GẠCH THỜI MẠC

 

Gạch là vật liệu quan trọng trong các công trình kiến trúc truyền thống Việt Nam. Trang trí trên gạch góp phần làm cho các công trình kiến trúc thêm đẹp và trang trọng. Công vic xây dng nhiu, s phát trin mnh m ca các loi hình gch, đặc bit là nhng viên gch trang trí hoa văn, đã to nên nhng sc thái khác nhau trong các công trình kiến trúc. Thông qua ngun tư liu v nhng viên gch trang trí thi Mc, chúng ta có th hiu thêm v kiến trúc, m thut cũng như lch s văn hóa Vit Nam thi k này.

Tình hình xây dng và s dng gch thi Mc

Thi Mc nước ta tn ti hai triu: triu Mc đóng đô Thăng Long và Dương Kinh gi là Bc Triu; triu Lê Trung hưng đóng đô Thanh Hóa gi là Nam Triu. Tuy nhiên các di tích đã nghiên cu đề cp đây ch yếu có du n nhà Mc.

Thời Mạc kéo dài 65 năm (1527-1592) với 10 đời vua kế tiếp nhau. Trong khoảng thời gian ấy, có đến 47 năm nhà Mc phi tiến hành các cuc chiến tranh vi nhà Lê Trung hưng. Điu đó cũng hn chế phn nào vic xây dng kiến trúc cung đin thi k này. Tuy nhiên, kiến trúc dân gian li có dp phát trin mnh m trong các làng quê với s hưng công đóng góp ca vua, quan li và tng lp quý tc vào vic xây dng các công trình đó. Thi Mc tn ti hai loi hình kiến trúc: kiến trúc cung đin, thành quách và kiến trúc dân gian. Ngun thư tch ghi chép rõ v tình hình xây dng kiến trúc cung đình còn không ghi chép mt dòng nào v kiến trúc dân gian các làng quê. Trong khi đó, ngun văn bia li ghi chép rt rõ v kiến trúc dân gian còn kiến trúc cung đình, thành quách hu như không được đề cp đến. S sách có ghi chép về thi Mc sa cha li Thăng Long (Hà Ni), Lam Kinh (Thanh Hóa) và xây dng thêm kinh đô mi Dương Kinh (Hi Phòng). Ti Thăng Long, nhà Mc tiến hành 3 ln sa cha thành lũy vào các năm 1585, 1587, 1588; dng đin Ging hc năm 1582 và trùng tu nhà Quc T Giám năm 1536 (1).

Ti Dương Kinh, nhà Mc cho xây dng thêm kinh đô th hai làm nơi thiết triu và để . Trong thi gian t năm 1527 đến 1530, mt lot cung đin được xây dng Dương Kinh như đin Sùng Đức, điện Phúc Ý, điện Tường Quang. S ghi rõ, năm 1530, Mc Đăng Doanh cho “dng đin nguy nga để Đăng Dung , mi tháng vào ngày mng 8 và ngày 22, Đăng Doanh dn qun thn ti đin triu yết”. Năm 1592, kinh đô Dương Kinh b phá hy hết lăng trong cuc chiến tranh vi nhà Trnh (2).

Ti Lam Kinh, s ghi mi s kin ngay sau khi lên ngôi, Mc Đăng Dung cho sa cha đin Lam Kinh vào năm 1527 (3).

Tuy nhiên, gch ch được nhc đến vào năm 1585 khi xây thành Đại La: Đắp thành trì, làm nhiu công vic xây dng, nung gch, ngói mt năm thì xong”(4).

Ngun tư liu văn bia thi Mc đồng thời cung cp nhiu thông tin có giá tr v tình hình xây dng, trùng tu và s dng gch trong các kiến trúc dân gian. Theo thng kê đến năm 1993, có 195 công trình kiến trúc (142 chùa, 12 đình, 7 quán đạo, 8 đền, miếu và bến đò, ch, cu) được xây dng mi, trùng tu. Các di tích này phân b hu khp các tnh Hi Hưng, Hi Phòng và Hà Tây (cũ) và ri rác các tnh khác Bc Vit Nam như Bc Ninh, Bc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Th, Ninh Bình, Nam Hà, Hà Ni, Qung Ninh, Thanh Hóa và Thái Bình (5), Năm 2010, thống kê b sung thêm 40 bia, trong đó mt s chùa, quán, đền ghi vic trùng tu xây dng (6).

Theo các văn bia đó, các di tích kiến trúc ch yếu được trùng tu trên cơ s t thi k trước ch ít được xây dng mi. S tham gia đóng góp tích cc ca tng lp vua, quan và quý tc vào các công trình tín ngưỡng tôn giáo các làng quê đã to lên nhng sc thái khác nhau và nh hưởng đến cht lượng công trình kiến trúc. Điu đó phn nào chng minh qua gch, đặc bit là nhng viên gch trang trí hoa văn. Gch được s dng các v trí kiến trúc như thm, nn, b th, tường, b nóc mái, tin đường, hu đường, tam quan...

Trang trí trên gch

Gch thi Mc gm có các loi: hình vuông, hình khi ch nht và hình dáng đặc bit. Tùy theo tng loi hình mà gch có chc năng khác nhau như xây, lát và p trang trí trên mi v trí trong công trình kiến trúc. Trong mi loi lại có mt s hình thức hoa văn trang trí vi nhiu biến th phong phú.

Gch hình vuông: có chc năng lát nn nên còn gi là gch lát. Gch có hình dáng chung là mt khi hình vuông dt, tiết din ngang hình ch nht. Kích thước gch nh nht (33 x 33 x 4.5)cm, ln nht (45 x 45 x 5.5)cm. Gch vuông thi Mc có màu, thường để trơn, ít trang trí hoa văn. Hoa văn trang trí gm hoa chanh thành Xích Th (Qung Ninh) hoc ô vuông dng hình bàn c chùa Đậu (Hà Ni) (7).

 Gch hình ch nht: theo kích thước gch hình ch nht có hai loi: loi có kích thước chiu dày ngắn hơn chiu rng to mt ct ngang hình ch nht dt (còn gi là gch bìa) và loi có tiết din hình vuông, gn vuông (còn gi là gch v).

Gch v di tích Dương Kinh dài trong khoảng 36,5 - 39cm, rng 13 -14cm, dày 10,5 - 12cm. Trong khi đó loi gch này chùa Đậu nh hơn đôi chút, dài từ 24 - 34cm, rng 9,5 - 11cm, dày 7 -11cm. Gch được trang trí hoa văn. Điểm đáng chú ý là cũng ging như gch hình vuông, gch v trang trí hoa văn ch thy trong các di tích kiến trúc dân gian xóm làng như chùa Đậu, chùa Cc Lc (Hà Ni). Các di tích kiến trúc kinh đô thường s dng gch v không trang trí hoa văn.

Hoa văn trang trí trên gch thi Mc thiên v nhng nét chm khc đơn gin, thưa nhưng đề tài trang trí phong phú với nhiều mẫu hoa văn khác nhau. Hoa văn trang trí trên mt gch, đầu viên gch hoc kết hp trên mt gch và đầu viên gch thường là các khung hình khác nhau: hình vuông, hình tròn lng trong khung hình vuông, hình ch nht và hình ô van.

Thoát khi ngh thut kiến trúc mang tính khuôn phép, cung đình thi Lê sơ, đ tài trang trí trên gch phong phú, đa dng phn ánh ngh thut dân gian phát trin cao. Đề tài trang trí là linh thú và hoa lá cách điu mang đậm phong cách thi Mc. Đề tài linh thú gm hình rồng, chim phượng, cá hóa rồng, hổ, nghê, lân, ngựa, voi, hươu, chim... Đề tài hoa lá gồm hoa mai, hoa sen. Hoa sen được thể hiện phong phú với chiều nhìn chính diện gồm 8 cánh hoa nổi khối trên mặt gạch; chiều nhìn bổ dọc có cánh hoa lượn mềm. Sự phối hợp nhiều đồ án khác nhau như chuột và hoa sen, rồng và chim phượng, hươu và hổ, hươu và voi,... là đặc trưng nổi bật trong giai đoạn này.

S xut hin tr li ca hoa văn hình chim phượng và hoa sen trang trí trên gch cũng là nét đáng chú ý trong trang trí trên gch thi Mc. Đặc bit, hoa dây lá cách điu và in/khc ch Hán khá ph biến trong thi Lê sơ li vng bóng trong thi Mc. Dạng hoa văn này tiếp tc xut hin tr li trong thi Lê Trung hưng.

Gch có chc năng xây bó móng, lát sân nn đường đi, xây giếng, cng thoát nước và các v trí khác trong kiến trúc. Gch v trang trí hoa văn được s dng xây các v trí như bó móng hoặc ốp bệ thờ, hiện còn ở một số di tích thuộc Hà Nội như chùa Hội, chùa Bối Khê, quán Hội Linh, quán Hưng Thánh (huyện Thường Tín), chùa Trăm Gian (Hoài Đức), đền Phù Đổng (Gia Lâm). Gạch thời này còn được tận dụng để xây bó móng bằng hình thức quay mặt có hoa văn trang trí vào trong như cách làm ở chùa Đậu (8).

Gch hình khi ch nht: kích thước chiu dày mng hơn chiu rng to mt ct ngang hình ch nht dt (còn gi là gch bìa). Trên mt s viên có g rìa cnh để khp ni vi nhng viên gch khác như gch trang trí hình chim phượng chùa Cc Lc và đền Thượng (Hà Ni). Loi gch này rt đa dng v kích thước: 34 x 21,5 x 3,4cm, 26.5 x 11,5 x 5,3cm. Gch được s dng để p trang trí b th hoc xây bó móng.

Loi có hình dáng đặc bit như gch hình khi hp ch nht rng và gch hình ch D. Gch hình khi hp ch nht rng (còn gi là gch thông gió)hai mt trang trí hoa văn hình bông hoa mai bn cánh. Khi liên kết vi nhau to thành mt di hoa mai liên hoàn, hình các vòng tròn lng nhau và hình bông hoa đồng tin. Loi gch này hiện còn di tích Dương Kinh (Hi Phòng) và trên b nóc mái quán Hưng Thánh (Hà Ni). Tuy nhiên, gch quán Hưng Thánh có đường dim là băng chm tròn ni, nhy hoa hình bông cúc nhiu cánh như hình mt tri có nhiu tia sáng, màu sc đỏ tươi. Trong khi đó gch di tích Dương Kinh màu xám, nhy hoa có chm tròn ni hơi to cánh hoa mai, đường dim không có chm tròn ni. Gch hình ch D hình khi ch nht, trên rìa cnh viên gch hình cung tròn to mt ct hình ch D. Mt này thường để trơn hoc trang trí hoa văn. Hoa văn trang trí hình cánh sen và hoa lá cách điu. Gch loi này thường được s dng bó va hoc bó góc như chùa Hi (Hà Ni).

Một số nhận xét việc trang trí trên gạch

Nhng viên gch trang trí hoa văn thi Mc góp phn nhn thc v k thut p trang trí trên vt liu kiến trúc Vit Nam thi k này. Diện mạo kiến trúc bị ảnh hưởng trực tiếp từ những chuyn biến xã hội theo xu hướng không n định như thi Lê sơ. Cho đến nay chưa tìm thy vết tích móng nn kiến trúc Thăng Long và Dương Kinh. Hin mi ch nhn din được gch thi Mc Dương Kinh (Hi Phòng) nên bước đầu nhn thy, móng gch thi Mc kinh đô Dương Kinh có phn nh, không kiên c và không trang trí hoa văn.

Ngược li vi kiến trúc cung đình, móng kiến trúc dân gian thi Mc được nhn din được khá rõ, qua vết tích móng kiến trúc còn khá nguyên vn chùa Đậu, chùa Hi và quán Hi Linh (Hà Ni). K thut bó móng kiến trúc thi Mc xếp so le và không dùng cht kết dính. K thut này bo lưu truyn thng t thi Lý, Trn, Lê sơ và phát trin trong thi Mc. Nhưng đim khác bit trong kiến trúc tín ngưỡng tôn giáo thi Mc là gch bó móng có trang trí hoa văn. Truyn thng này tiếp tc phát trin trong thi Lê Trung hưng như đã thy trên nhng viên gch v trang trí hoa văn chùa Đậu (Hà Ni).

M thut thi Mc vn tiếp ni các đề tài quen thuc như hình rng, hoa cúc, hoa mai, tượng nghê thi Lê sơ. Nhưng thi đại mi vi nhng yếu t mi đã tác động lên thm m ca con người nói chung, người th trc tiếp làm ra sn phm nói riêng. C th, bên cnh Nho giáo, s phát trin khá mnh ca Pht giáo và Đạo giáo cùng vi s biến động ca lch s đã tác động mnh m đến m thut thi Mc. Nét đặc trưng ca m thut thi Mc là s xut hin thêm nhiu hoa văn mi như linh vt gn gũi vi con người (hươu, voi, h, chut). Các hình tượng trong trang trí được din t hin thc hơn, hình khi tr li vi v khe khon, đơn gin. B cc t do, thoi mái, ít b gò bó theo khuôn mu.

Kỹ thuật in khuôn phổ biến, nhưng kỹ thuật chạm khắc trực tiếp bằng tay. Ví dụ, viên gạch trang trí hình chim phượng được tạo bằng nhiều đường nét tỷ mỷ nhờ thủ pháp kỹ thuật tinh xảo như các đường cong nhẹ thể hiện lớp cánh, các đường chạm khắc vát lõm, tỉa nhỏ… tất cả thể hiện hình chim phượng rất sinh động và giàu tính hiện thực. Đó cũng là đặc điểm góp phần làm rõ hơn mỹ thuật thời kỳ này.

Nhìn chung, mỹ thuật thời Mạc phản ánh sự hòa quyện giữa cung đình và dân gian. Trong đó, yếu tố dân gian có xu hướng lấn át yếu tố cung đình, khiến cho các sản phẩm đem lại cảm nhận gần gũi hơn với đời sống.

Trang trí trên gạch thời Mạc nói riêng và gạch thời Mạc nói chung góp phần phn ánh lch s văn hóa xã hi Vit Nam thi k này. Xã hi thi Mc có ni chiến phe phái Nam - Bc triu. Phía Bc là nhà Mc, phía Nam là nhà Lê Trung hưng vi s phò tá ca chúa Trnh. Do mi lo tp trung trí lc và vt lc vào các cuc ni chiến, nên vic quy định đẳng cp rõ ràng được ni lng. Nho giáo vn tn ti nhưng Pht giáo và Đạo giáo có xu hướng phát trin tr li. Nhà Mc không tp trung xây dng kinh đô Thăng Long mà thay vào đó là Dương Kinh. Gch thi Mc gin lược hơn rt nhiu so vi vẻ hoành tráng của gạch thi Lê sơ. Gch in, khc ch Hán không thy xut hin. Hiếm thy gch có kích thước ln.

Thi k này, chùa thờ Phật và các quán Đạo giáo xuất hiện nhiều. S tham gia hưng công đóng góp ca tng lp vua, quan nhà Mc vào các ngôi chùa làng phát trin mnh m. Bng chng là hình nh bông hoa sen trang trí trên gch trong nhng ngôi chùa, quán đạo thi Mc tuy có cách điu nhưng vn mang dáng dp ca ngôi chùa Pht giáo thi Trn - H. Màu sc đỏ tươi cũng góp phn cho thy nh hưởng mnh m t truyn thng ngh thut Pht giáo thi Trn - H.

Đặc bit, ngh thut dân gian bt đầu phát trin mnh trong thi Mc. Các loi hoa văn mang đậm cht dân gian như hình linh thú (chut, voi, hươu, h), cũng như hình nhng loài vt gn gũi vi con người trở thành môtip trang trí ph biến trên gch trong nhng ngôi chùa làng. Hình rng và chim phượng vn là hoa văn trang trí trong cung đình nhưng dưới thi Mc, hoa văn này được trưng dụng và thể hiện một cách thoi mái trên gch cùng vi các hoa văn khác. Người thợ dân gian chm khc bng tay trc tiếp ri đắp thêm trên mt gch hình chim phượng, như chùa Cc Lc (Hà Ni), đã minh chứng cho sự phát triển trong tư duy tạo hình đương thời. S phát trin ca ngh thut dân gian trên gch thi Mc trùng hp vi s phát trin ca kiến trúc dân gian trong TK XVI.

_______________

1, 4. Đại Việt sử ký toàn thư, tập III, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, tr.120, 161, 177.

2, 3. Lê Quý Đôn toàn tập, tập III, Đại Việt thông s, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978, tr.265, 266.

5. Nguyễn Tiến Cảnh, Nguyễn Du Chi, Trần Lâm, Nguyễn Bá Vân, Mỹ thuật thời Mạc, Viện Mỹ thuật, Hà Nội, 1993, tr.106 -178.

6. Đinh Khc Thuân, Văn bia thi Mc, Nxb Hi Phòng, 2010, tr.163, 224.

7. Đỗ Văn Ninh, Thành Xích Th (Qung Ninh), Tạp chớ Khảo cổ học, s 20-1976, tr.71-76.

8. Nguyễn Ngọc Chất, Nguyễn Quang Huy, Khai quật khu trung tâm di tích chùa Đậu năm 2006, Thụng bỏo Khoa học, Hà Nội, 2007, tr.77-102.

Nguồn : Tạp chí VHNT số 351, tháng 9-2013

Tác giả : Ngô Thị Lan

Ý kiến bạn đọc

Loading.....

(Vui lòng điền đầy đủ thông tin và gõ nội dung bằng tiếng Việt có dấu)

Bài viết liên quan