Thông tin VHNTTư liệu nước ngoài

Thứ Hai, 19/12/2016 | 16:32 GMT+7

KINH NGHIỆM QUẢN LÝ VĂN HÓA BIỂN ĐẢO Ở MỘT SỐ QUỐC GIA

Khai thác biển đang trở thành vấn đề mang tính chiến lược đối với nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia có biển. Chính vì vậy, nghiên cứu kinh nghiệm quản lý văn hóa biển đảo trên thế giới có thể giúp cho Việt Nam có cách tiếp cận phù hợp hơn trong quản lý văn hóa. Bài viết tổng hợp kinh nghiệm của các quốc gia như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Canada,Scotland để thể hiện quan điểm của các nước đối với quản lý văn hóa biển đảo nhằm rút ra bài học cho Việt Nam.

1. Canada

Về bảo tồn kiến trúc bản địa

Công trình kiến trúc nghề cá ở Newfoundland và Labrador trước đây bao gồm một phức hợp các dãy nhà và kết cấu gọi chung là khu nhà đánh cá hay các phòng. Giàn là nơi quan trọng nhất, nơi cá được cắt và sơ chế, kế tiếp là các bệ phơi cá bằng gỗ được gọi là giá phơi. Thông thường, có một nhà kho phụ, hoặc một công trình để cất lưới cá, dụng cụ, thường được gọi là gác lưới. Dù những kết cấu bằng gỗ này được thiết kế một cách khá đơn giản, nhưng chúng vẫn mang nét riêng biệt rất sắc sảo, đa dạng hóa từ vùng này qua vùng khác.

Các khu nhà đánh bắt cá ngày nay gồm ít nhất một tòa nhà, một nhà kho, một cầu cảng. Hình thái vật chất của những bệ giàn ngư nghiệp ngày nay không thay đổi nhiều so với thời làm ngư nghiệp theo hộ gia đình. Tuy nhiên, chỉ còn ít khu nhà có giàn phơi, các thềm gỗ để phơi cá. Bởi, quá trình phơi khô được thực hiện bằng máy móc, chỉ có một thị trường thương mại rất nhỏ cho cá muối phơi khô.

Chương trình Bảo tồn Di sản ngành Thủy sản được thiết kế như một chương trình tài trợ, giúp phục hồi, xây dựng lại những tòa nhà đánh bắt cá bằng gỗ truyền thống. Theo chương trình, những khoản trợ cấp tài chính nhỏ được định sẵn, giao động từ 500 - 2.000 đôla cho mỗi tài sản, hay lên tới 10.000 đôla cho các dự án trên dựa trên cộng đồng liên quan đến nhiều cấu trúc xây dựng. Chương trình ưu tiên cho những cộng đồng chưa từng nhận tài trợ di sản trước đây.

Dự án thí điểm đã thành công, chương trình được mở rộng từ năm 2002, kết thúc năm 2014. Tài trợ được chuyển trực tiếp tới các cá nhân, cộng đồng, tổ chức phi lợi nhuận để khôi phục các bệ giàn, nhà kho, gác lưới và nhiều tòa nhà khác có liên quan tới ngành thủy sản của Newfoundland và Labrador. Sự hỗ trợ còn dành cho việc bảo tồn và phục hồi các đặc trưng của di sản có sử dụng nguyên vật liệu nguyên bản. Chương trình Bảo tồn Di sản ngành Thủy sản đã trở thành một trong những chương trình thành công, có kết quả rất ấn tượng.

Về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể ngành thủy sản

Năm 2006, tỉnh Newfoundland và Labrador ban hành Chiến lược Văn hóa cấp tỉnh: Newfoundland và Labrador sáng tạo, vạch ra sự cần thiết cho một chiến lược bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, đề xuất “cần tạo ra một ủy ban cố vấn công cộng có trách nhiệm chọn lựa, công nhận di sản văn hóa phi vật thể cấp tỉnh”. Cần có những chính sách, chương trình để khuyến khích những truyền thống đang tồn tại của tỉnh được tiếp tục, tập trung vào bản sắc địa phương.

Bắt đầu từ năm 2008, Quỹ Di sản Newfoundland và Labrador (HFNL) được chọn làm cơ quan chịu trách nhiệm về phát triển và triển khai chiến lược di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh. Nhiệm vụ của Văn phòng Di sản Văn hóa Phi vật thể của HFNL là bảo vệ, duy trì các di sản văn hóa phi vật thể của Newfoundland và Labrador cho các thế hệ ở khắp mọi nơi, như một phần quan trọng trong bản sắc của người dân nơi đây, một bộ sưu tập có giá trị về những kiến thức, phong tục độc đáo. Điều này đạt được thông qua các sáng kiến để kỷ niệm, tư liệu hóa, truyền bá, phát huy những di sản sống.

Một trong những đối tác cộng đồng của sự kiện là Bảo tàng Thuyền gỗ Newfoundland và Labrador, một tổ chức đóng vai trò gìn giữ, trưng bày, truyền tải kiến thức về lịch sử, giá trị kinh tế của thuyền gỗ và đóng góp của nó đối với cộng đồng. HFNL thu thập tài liệu dân tộc học, danh sách người cấp tin cũng như người tham dự cho Bảo tàng Thuyền, sau đó bảo tàng sử dụng những thông tin này để tổ chức các sự kiện động cơ thuyền máy trong tương lai. Kế hoạch dài hạn của họ bao gồm những cộng đồng lắp dỡ máy thuyền thành những sự kiện về con thuyền trên biển trong tương lai, khuyến khích việc truyền bá kiến thức truyền thống về thuyền, cách chế tạo thuyền.

2. Nhật Bản

Về duy trì văn hóa trên đảo với sự tiếp nhận văn hóa đô thị

Chính phủ Nhật Bản coi việc sử dụng văn hóa truyền thống như một phần quan trọng trong chiến lược tăng trưởng của quần đảo Amami. Những chiến lược này dựa trên ý tưởng: du khách sẽ ghé thăm các vùng, may mắn được gặp gỡ cư dân bản địa, những người vẫn đang duy trì truyền thống ở địa phương.

Để thực hiện dự án này, đầu tiên là người dân địa phương phải cởi mở để chào đón những người bên ngoài đến thăm cộng đồng mình. Sau đó, du khách phải có khả năng chia sẻ cảm xúc với người dân địa phương. Hơn nữa, duy trì chiến lược này đòi hỏi người dân phải đem lại sự hài lòng cho khách thập phương, ngay cả khi những đặc tính, nội dung của văn hóa truyền thống hiện nay đã thay đổi.

Các chiến lược cho rằng, văn hóa truyền thống là những văn hóa riêng lẻ được định hình theo lịch sử, vốn đã nổi tiếng và là những thực thể không thay đổi. Tuy nhiên, trong thực tế, văn hóa phát triển hàng ngày trong cuộc sống của cộng đồng dân đảo. Việc phân tích về đô thị hóa và làm thế nào để tiếp tục duy trì văn hóa truyền thống sẽ là điều căn bản để các chính sách tăng trưởng đạt được thành công.

Về đô thị hóa lối sống và tính chất khép kín của các cộng đồng

Ở quần đảo Amami không có người biểu diễn chuyên nghiệp về văn hóa truyền thống. Tại các nhà hàng ở Naze, khu định cư chính của Amami-Oshima, các ca sĩ shimauta được gọi đến biểu diễn nếu có khách hàng yêu cầu. Về phía Nam của quần đảo Amami, ở Okinawa, nơi văn hóa truyền thống nổi tiếng hơn, có những người biểu diễn chuyên nghiệp và một khu chợ văn hóa truyền thống. Do đó, nếu du khách muốn trải nghiệm văn hóa, thì nên đến với các cộng đồng còn lưu giữ được văn hóa truyền thống.

Xây dựng, phát triển văn hóa đảo Amami như một chiến lược tăng trưởng kinh tế và ảnh hưởng từ đất liền

Ý tưởng sử dụng văn hóa truyền thống cho tăng trưởng kinh tế trong nhiều trường hợp dẫn đến sự tái thiết những cảnh quan của cộng đồng cũ, khởi tạo nên những dự án đậm màu sắc văn hóa địa phương. Tuy nhiên, trước sự lan truyền của văn hóa đô thị, cộng đồng rất khó duy trì được văn hóa truyền thống. Quần đảo Amami không có các chuyên gia đảm trách công việc về thị trường văn hóa, không có ai phù hợp để thực hiện các hoạt động văn hóa theo nhu cầu của khách du lịch. Trong trường hợp này, có thể sẽ tốt hơn nếu không xem văn hóa bản địa như một phương tiện để tăng trưởng kinh tế.

Sự hấp dẫn của văn hóa quần đảo Amami không thể tìm thấy được trong từng yếu tố riêng lẻ, ví dụ như điệu múa hachigatsu odori hay dân ca shimauta, mà lại là ở sự hài hòa giữa văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại từ lục địa. Có lẽ các hiện tượng văn hóa được tạo ra bởi phong cách mới này không chỉ đem lại điều gì đó mới mẻ mà còn là những điều mà du khách có thể đồng cảm. Vì thế, điệu nhảy rokucho và dân ca shimauta đương đại chỉ là khởi đầu của rất nhiều hoạt động văn hóa đa dạng đã vượt ra ngoài cộng đồng. Vì lý do đó, người ta vẫn đặt ra câu hỏi chưa có hồi kết: bằng cách nào văn hóa truyền thống của Amami có thể thực hiện vai trò như một chiến lược chính để tăng trưởng kinh tế trên thực tế và như mong đợi.

3. Scotland

Phát triển kinh tế để bảo tồn văn hóa biển, đảo

Ở Scotland, có những doanh nghiệp trên đảo, vùng sâu vùng xa phục vụ thị trường trong nước và khu vực. Ở đó, tình trạng cô lập, khả năng cạnh tranh chính là lợi thế để các doanh nghiệp phát triển. Scotland có thể tận dụng lợi thế về cạnh tranh độc quyền trong lĩnh vực thực phẩm, đồ uống,  như: nhà máy bia trên Arran, Unst, Skye; cá hồi hun khói từ Salar Smokehouse cung cấp hương vị của đảo như một điểm bán hàng duy nhất.

Đối với những nền kinh tế phát triển hơn, hải đảo và những vùng tương tự thường thu hút công nhân, doanh nhân, những người làm việc trực tiếp với nguồn tài nguyên văn hóa như ngôn ngữ, nghệ thuật, thực phẩm, di sản, với người di cư tham gia vào công tác văn hóa cho tới các không gian nông thôn xa xôi. Vì vậy, nghệ sĩ, thợ thủ công, thực phẩm, đồ uống, di sản, văn học hay phương tiện truyền thông liên quan đến các chuyên gia thường được đưa tới các không gian xa xôi để tận dụng nguồn nguyên vật liệu chính, trải nghiệm sự khác biệt của văn hóa vùng miền.

Người nhập cư đến các vùng xa xôi thường theo mô hình doanh nghiệp theo phong cách nông thôn. Một số lĩnh vực hoạt động thiếu cân đối trong việc thực hiện các lợi thế mà họ có thể tích lũy từ đảo như âm nhạc, phim ảnh, nghệ thuật thị giác, văn học, thủ công. Ngoài những điều này, các lĩnh vực khác khá tiên tiến, đặc biệt là thực phẩm, thức uống, nhiều doanh nghiệp nhỏ mới thành lập đã tập trung đầu tư vào sự độc đáo của địa phương. Rất nhiều doanh nghiệp mới được đặt trong các thị trường phát triển thích hợp, dựa vào xu hướng toàn cầu để tái khẳng định giá trị văn hóa địa phương. Đồng thời, doanh nghiệp đã biết cách khai thác chuyên sâu những điểm độc đáo về kinh nghiệm, tình hình địa lý của địa phương để xác định địa điểm bán hàng độc quyền, hấp dẫn thị trường.

4. Hàn Quốc

Công nhận di sản, bảo vệ văn hóa biển, đảo

Vào tháng 3 - 2014, hồ sơ đề cử Văn hóa nữ thợ lặn đảo Jeju (hải nữ) đã được đệ trình để xét duyệt vào năm 2015 trong Danh sách Đại diện. Văn hóa Haenyeo Jeju tương ứng với các lĩnh vực: hiểu biết, thực hành liên quan đến thiên nhiên, vạn vật; tập quán xã hội, nghi lễ, lễ hội. Công việc lặn thường diễn ra dưới mực nước biển khoảng 10m, thuộc về mảng thực hành; trong khi bản đồ tưởng tượng về biển bao gồm các rạn san hô, môi trường sống cho các loài giáp xác, hiểu biết dân gian về gió, thủy triều thuộc mảng kiến thức. Ba nhóm dựa vào kỹ năng lặn và hợp tác giữa các Haenyeo Jeju liên quan đến tập quán xã hội, trong khi jamsu-gut là một nghi lễ linh thiêng đối với nữ thần biển, cầu cho sự an toàn và đánh bắt dồi dào.

Cùng với sự suy giảm số lượng, sự già hóa của các thợ lặn hiện tại là một vấn đề đáng quan ngại hiện nay. Để truyền thống haenyeo duy trì bền vững phải đảm bảo rằng họ có thể kiếm được nguồn thu nhập ổn định, duy trì được sức khỏe tốt. Trên tất cả, thợ lặn cần phải chủ động để giảm bớt số giờ và số ngày lặn mỗi năm.

Tỉnh Jeju có chính sách điều trị bệnh miễn phí cho các nữ thợ lặn kể từ năm 2002, 5 năm (2011-2015) kế hoạch toàn diện đối với văn hóa Haenyeo Jeju, bao gồm quản lý tài nguyên biển, di sản văn hóa phi vật thể địa phương (bài hát Haenyeo, bộ áo tắm bằng vải bông truyền thống Murot, công cụ lặn, lễ hội...).

Các biện pháp bảo vệ được đề xuất bao gồm: chương trình tuyển dụng đối với nghề Haenyeo, trợ cấp khởi nghiệp dành cho hợp tác xã làng nghề cá, nới lỏng yêu cầu trình độ đối với các thành viên mới, xem xét các tập quán để nghiên cứu, phát triển chương trình giảng dạy về văn hóa Haenyeo Jeju. Các nữ thợ lặn đảo Jeju phải học mà không được giảng dạy một cách bài bản. Học chính là thực hành và ngược lại. Các chương trình giảng dạy về văn hóa Haenyeo Jeju có thể bao gồm các khía cạnh sinh thái của công việc lặn cũng như giáo dục về sự phát triển bền vững, sự quan tâm của haenyeo đối với những yếu điểm còn tồn tại, cam kết một lợi ích chung, cũng như người phụ nữ có vai trò ở trung tâm kinh tế và bình đẳng giới.

Các biện pháp bảo vệ để đảm bảo sức khỏe, an toàn, thu nhập ổn định, đã phát triển mạnh mẽ cùng với sự tham gia tích cực và hợp tác của chính các haenyeo; đồng thời tăng cường cơ hội cho một thế hệ mới để tiếp tục duy trì truyền thống này.

5. Trung Quốc

Về việc hoàn thiện thể chế pháp luật về biển, đảo

Trong nhiều năm trở lại đây, các quy định pháp luật về biển đảo của Trung Quốc không ngừng được hoàn thiện, kiện toàn trên tất cả các lĩnh vực: bảo vệ chủ quyền, an ninh trên biển, các quyền, lợi ích biển, khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường biển… Từ đó hình thành nên một khung pháp lý cơ bản về biển đảo, góp phần thực hiện chiến lược cường quốc biển của Trung Quốc...

Trong các lĩnh vực cụ thể, Trung Quốc cũng ban hành một loạt luật nhằm điều chỉnh hành vi trong các lĩnh vực có liên quan đến biển đảo... Hiện nay, Trung Quốc đang tiếp tục tăng cường nghiên cứu xây dựng Luật Biển cơ bản, nhằm xây dựng một khung pháp lý thống nhất, đồng bộ điều chỉnh các quan hệ pháp luật phát sinh trên biển, góp phần quan trọng cho việc thực hiện chiến lược cường quốc biển của nước này. Những văn bản quy phạm pháp luật này đã giúp cho Trung Quốc định hình chính sách quản lý biển đảo, trong đó có quản lý văn hóa biển đảo.

Về ban hành các chính sách bảo vệ văn hóa biển đảo

Từ những năm 80 TK XX, Trung Quốc đã có một loạt các chính sách hướng ra biển gồm: mở cửa các thành phố ven biển ra với thế giới; tăng dân số, mở rộng đô thị hóa ở các thành phố ven biển; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh ở các vùng ven biển; toàn cầu hóa sâu hơn về phát triển kinh tế dọc bờ biển, cũng như trên, trong và dưới các biển.

Về mặt kinh tế, những mục tiêu trên đã đạt được thành công nhất định. Tuy nhiên, về mặt văn hóa, nhiều di sản văn hóa biển đã bị đe dọa biến mất hoặc bị phá hủy bởi các hành động bất hợp pháp xảy ra trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa. Để đối phó với thực trạng này, Trung Quốc đã thực hiện được một số việc sau:

Một là, thông qua các luật và quy định để bảovệ di sản văn hóa biển trước nguy cơ bị phá hủy.

Hai là, thành tựu trong việc hợp tác với các tổ chức quốc tế, đặc biệt là UNESCO, để bảo vệ di sản văn hóa, trong đó có di sản văn hóa biển.

Ba là, hình thành các hành động của Chính phủ.

Bốn là nhận thức của các tổ chức và người dân về giá trị và tầm quan trọng của di sản văn hóa biển ngày càng được tăng cường.

Cuối cùng, đầu tư nghiên cứu bảo vệ di sản văn hóa biển bởi các cơ quan như Quỹ Khoa học Tự nhiên quốc gia Trung Quốc, Quỹ Khoa học Xã hội và Nhân văn, cùng nhiều quỹ của các địa phương đã có thành công đáng kể.

Tất cả các quốc gia có biển đều có những cách thức ứng xử với biển phù hợp với điều kiện, truyền thống văn hóa của từng nước. Từ cách đặt tên các vùng biển thể hiện chủ quyền quốc gia tới tri thức về mùa bão, mùa cá, hay các nghi lễ thờ cá thiêng phổ biến ở nhiều khu vực…, tất cả đều cho thấy ứng xử với biển là một xu thế vừa chung, vừa đặc thù của các quốc gia biển đảo. Kinh nghiệm của các quốc gia cũng chỉ ra rằng, quản lý văn hóa biển đảo cần phải đặt trong việc nghiên cứu phát triển toàn diện khu vực biển đảo. Như vậy, các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, du lịch, ngư nghiệp… phải được đặt trong mối quan hệ có tác động qua lại, tương hỗ lẫn nhau. Không thấy được mối quan hệ tương hỗ đó, mọi giải pháp quản lý biển đảo đều không mang tính bền vững.

Biển đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển, bảo vệ đất nước. Với vai trò hỗ trợ Chính phủ kiến tạo và hành động, quản lý văn hóa biển đảo vừa đóng vai trò định hướng phát triển văn hóa, con người, bảo vệ chủ quyền đất nước, vừa tạo điều kiện để người dân, cộng đồng cư dân ở vùng biển đảo xây dựng đời sống văn hóa cho chính mình.

Nguồn : Tạp chí VHNT số 390, tháng 12-2016

Tác giả : BÙI HOÀI SƠN

Ý kiến bạn đọc

Loading.....

(Vui lòng điền đầy đủ thông tin và gõ nội dung bằng tiếng Việt có dấu)

Bài viết liên quan