Văn hóaVăn hóa cổ truyền

Thứ Tư, 17/01/2018 | 15:57 GMT+7

TỔ CHỨC KHÔNG GIAN NHÀ Ở THỊ DÂN THỜI KỲ PHÁP THUỘC Ở HÀ NỘI

Thời kỳ người Pháp chính thức xâm lược Việt Nam kéo dài hơn 60 năm (1884-1945), tại Hà Nội là hơn 50 năm, đây là thời kỳ đầy đau thương và bi tráng của dân tộc, do phải hứng chịu sự cai trị tàn bạo của thực dân Pháp. Tuy vậy người Pháp cũng để lại một số dấu ấn của văn hóa khá đặc trưng, tiêu biểu là nghệ thuật kiến trúc và tổ chức không gian sinh hoạt của các công trình kiến trúc công sở, dinh thự và nhà ở của người dân thành thị tại Hà Nội. Cuối TK XIX đầu TK XX khi Hà Nội chính thức chịu sự quản lý của người Pháp họ đã bắt tay vào xây dựng một số công trình kiến trúc tiêu biểu như: các tòa nhà hành chính, rạp hát... và đặc biệt nhất là khu dân cư dành cho tầng lớp thị dân tại khu vực 36 phố phường (chủ yếu nằm trong các quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa ngày nay).

Thời kỳ này sản xuất công nghiệp và hoạt động thương nghiệp là những yếu tố căn bản thúc đẩy sự phát triển của đô thị. Khu vực 36 phố phường là một khu dân cư đông đúc tập trung các hoạt động sản xuất thủ công và hoạt động thương nghiệp mạnh nhất ở Hà Nội. Phố cổ thời kỳ này thường là một không gian thống nhất với nhà cửa hai bên, giữa là mặt đường bằng đất có lát gạch ở giữa, có cổng ngăn cách ranh giới của mỗi phường trên suốt chiều ngang của phố. “Phường thủ công - buôn bán xưa mất đi tính khép kín vốn có của nó và bắt đầu hòa nhập vào cấu trúc chung của khu phố tiếp nhận những ảnh hưởng từ bên ngoài về không gian kiến trúc và kinh tế xã hội” (1).

Trong giai đoạn này, mặc dù chịu ảnh hưởng từ các phong cách thiết kế phương Tây nhưng người Hà Nội vẫn tiếp tục phương thức truyền thống trong sửa chữa và xây dựng mới nhà ở, tạo nên cái nhìn toàn cảnh vẫn mang nét quen thuộc với những lớp mái nhỏ nhấp nhô, nối nhau một cách tự nhiên. Đặc điểm kiến trúc nhà ở tại khu vực này đa phần là những ngôi nhà xây sát nhau có mặt tiền hẹp và có chiều sâu tới vài chục mét thường được gọi là nhà ống. Đó là những ngôi nhà một tầng, kết cấu gỗ, mái lớp ngói ta, mặt nhà hẹp và phát triển sâu vào phía trong bằng những lớp nhà kế tiếp. “Nhà thường được lợp hai lớp ngói không liền mái, ở giữa là những bức tường xây gạch giật cấp, ngăn cách với những ngôi nhà bên cạnh. Đặc biệt, vật liệu trát tường không phải vôi vữa mà là vôi trộn với cát và mật mía, mỗi lớp cao hai tầng, mái dốc lợp ngói vảy rồng” (2). Mặt đứng của ngôi nhà thường có hình thức đơn giản do kết cấu nhà thường chỉ có một tầng hoặc có thêm một tầng lửng. Phần mặt chính của ngôi nhà thường được xây lùi so với tường biên hai bên để tránh mưa nắng. Nhà nào có thêm gác lửng phía trên thì còn có một cửa nhỏ để lấy ánh sáng và thông gió. Vật liệu được sử dụng chủ yếu là gạch, mái nhà được lợp bằng ngói và đánh dốc về hai phía, các lớp mái đặt cách nhau tạo ra sân trong, hai đầu đỉnh mái lớp ngoài cùng giáp đường phố có các trụ mái được trang trí đơn giản bằng vữa đắp, tường mái ngăn cách giữa các nhà được xây cao vượt lên khỏi mái có hình bậc thang theo độ dốc mái.

Ngoài ra, ngôi nhà luôn có luồng khí đối lưu và không bị nóng nực nhờ vào lớp cửa gỗ và mái nhà được lợp bằng ngói mũi hài, tạo ra các lỗ thoát khí ở giữa. Hầu hết các lớp cửa được chạm trổ và luôn luôn tạo ra đối lưu ánh sáng. Khi cần thiết có thể mở lớp này ra, ngôi nhà sẽ có được toàn bộ ánh sáng, cũng như là khe gió tùy thuộc theo khí hậu. Đây cũng là điều đặc biệt, trụ khớp cửa cũng rất đơn giản, chỉ cần nhấc lên là xong.

Về tổ chức không gian, hình thức nhà ống này thường được chia thành hai thành phần có chức năng khác nhau: phía ngoài là cửa hàng bao gồm nơi sản xuất, kho chứa, nơi bán hàng vừa là nơi giao tiếp. Tiếp đến là một sân nhỏ với giếng trời, giúp lấy ánh sáng tự nhiên và nước sinh hoạt, thông thường có hai sân, một sân trồng cây cảnh, bể cá non bộ có thể coi là sân cảnh, một sân gắn với khu phụ có bể nước được gọi là sân ướt. Kế đến là gian nhà hậu làm kho, sân trong cùng làm bếp và khu phụ với không gian mở thoáng khí. Nhược điểm của nhà ống thường bị giới hạn bởi không gian chiều ngang nhưng với cách bố cục khéo léo giữa hệ thống các phòng, gác lửng, sân trong vừa đáp ứng được nhu cầu của cuộc sống phố thị vừa giải quyết được vấn đề lưu thông không khí. Không gian ở thường không lớn nhưng vẫn đầy đủ công năng sử dụng làm nơi bán hàng, nơi thờ cúng, tiếp khách, ngủ, hóng mát… quan hệ nội bộ các phòng đều là quan hệ xuyên phòng, tận dụng khoảng không kê đồ sát một mặt tường dọc làm lối đi và phân định không gian. “Việc xuyên suốt từ không gian phòng này sang phòng khác là đặc trưng nổi bật không gian nhà ở trong khu 36 phố phường” (3).

Nhà ở của người thị dân thời bấy giờ thường được sử dụng để ở kết hợp buôn bán. Do yêu cầu việc buôn bán ở thành thị nên việc mở cửa hàng để bán hàng ở những nhà có mặt cửa rộng quay ra phố là một vấn đề quan trọng tất yếu. Vì vậy, “nhà chỉ có bề ngang từ 2 đến 6m nhưng lại được phát triển mạnh theo chiều sâu… và để tận dụng người ta thường làm thêm những gác lửng leo lên bằng cách để lỗ sàn và gác một cầu thang một về với độ dốc 700 đến 750 làm bằng gỗ” (4). Phía ngoài sử dụng làm cửa hàng, không làm tường vách mà mở thông ra phố để bày hàng vì vậy cửa đi và cửa sổ phía ngoài mặt đường thường sử dụng hệ thống khung gỗ được làm để thay cho những bức tường. Đây chính là dạng cửa lùa bằng cách sử dụng các tấm gỗ ván dày được xếp khít cạnh nhau dễ tháo lắp vừa tiết kiệm diện tích vừa đa chức năng.

Phần trung tâm là phòng khách với những bày trí thể hiện sự tôn nghiêm, hiếu khách. Trong quan hệ với bạn bè, khách khứa người Hà Nội bao giờ cũng có một thái độ hiếu khách truyền thống, điều đó không chỉ thể hiện qua văn hóa ứng xử mà còn thể hiện bởi không gian đón tiếp khách luôn thể hiện được sự ấm cúng, thân quen. Trung tâm của không gian phòng khách bộ sa lông cổ chạm khảm, mặt đá làm nơi tiếp khách, trên bàn để bộ đồ trà. Phía trong có tủ chè, sập gụ chân quỳ cổ, chạm khảm. Tường hậu treo cuốn thư và câu đối, hai bên tủ chè có lộc bình to cao và chóe sứ đặt trên đôn cao. Nóc tủ bày Tam đa, tượng trang trí, đồ cổ, trong tủ có bát đĩa cổ...

Gian nhà ăn cũng là không gian thể hiện được nét văn hóa của người Hà Nội thường được bài trí giản dị nhưng đầy vẻ ấm cúng. Khi ăn uống, người Hà Nội bao giờ cũng giữ nền nếp ăn trông nồi, ngồi trông hướng và luôn luôn thận trọng, ý tứ khi trong mâm có người già cao tuổi hay khách khứa.

Tiếp đến là gian nhà hậu, kho hàng và nhà bếp. Gian nhà hậu cũng có hai tầng: tầng một làm nơi tiếp đón bạn hàng, khách giao dịch hoặc là nơi sản xuất; tầng hai, gian phía ngoài thường dành đón tiếp cố nhân hoặc người thân từ quê lên chơi.

Nhà bếp với đầy đủ công năng đun nấu và lưu trữ thức ăn. Bếp nấu là một bệ bếp chạy dài xây bằng gạch đỏ được chia làm hai khoang, phía dưới bếp có cửa gió vừa lấy khí vừa là nơi cho than vào, phía trên là phần kiềng sắt hoặc gang, gạch ba chân đặt nồi đun, trên bệ bếp có thể đặt thêm các nồi phụ.

Khu vực lưu trữ thức ăn thể hiện nét đặc trưng của người Hà Nội thời kỳ này. Hình dạng và kết cấu của chiếc tủ bếp ngày xưa cũng khá đơn giản vẫn quen gọi là chiếc chạn bát. Chạn thường có dạng hình hộp chữ nhật 2 hoặc 3 tầng tương ứng với 2 hoặc 3 ngăn riêng biệt. “Ngăn trên cùng được ưu tiên để đồ ăn, đặc biệt là đồ chưa ăn hết dành sang bữa sau, đồ để phần người ăn muộn… Ngăn thứ hai thường để úp bát, đĩa cỡ vừa và nhỏ. Ngăn dưới cùng là để các loại hũ sành hoặc nồi, niêu, xoong, chảo” (5).

Ống đũa sẽ được đóng riêng bên ngoài và sát cạnh chạn để tiện lấy. Còn trên nóc chạn, nhiều nhà tận dụng để mâm bát hoặc đồ dự trữ.

Còn về vật liệu để đóng chạn bếp, gỗ và tre nứa là hai loại vật liệu phổ biến nhất, được cắt thành từng thanh nhỏ, ngắn và mỏng rồi ghép lại với nhau. Có nhà thì đóng kín, có nhà thì để hở cho thông thoáng, không bí hơi.

Mặc dù kết cấu nhà ống đặc trưng của thời kỳ Pháp thuộc là mặt tiền hẹp và chiều sâu lớn nhưng trong không gian sinh hoạt của ngôi nhà dù nhỏ nhưng không hề ngột ngạt mà luôn luôn thông thoáng mát mẻ nhờ thiết kế rất hợp lý. Mái ngói của các lớp nhà có độ dốc 30°, nhờ thế, tạo nên luồng không khí luôn luôn đối lưu. Vì vậy khói và mùi thức ăn trong quá trình đun nấu sẽ thoát lên trên và không để lại mùi trong không gian nội thất.

Sau khu nhà chính là sân trời là nơi lấy ánh sáng cho hai gian ở hai bên và tạo ra khoảng cách biệt với không gian bên ngoài, thường được trồng cây cao hoặc thậm chí là giếng khơi giúp lấy nước sinh hoạt. Đây cũng là nơi bày cây cảnh, uống nước, ngắm trăng. Kết cấu chủ yếu của công trình là gỗ và có nhiều họa tiết trang trí. Xen giữa các không gian trong nhà có sân bày trí các chậu cảnh tạo cảnh quan môi trường, gần gũi với thiên nhiên.

Tầng hai là không gian thờ và phòng ngủ. Dù sinh sống và buôn bán ở kinh kỳ, nhưng người dân luôn nhớ công ơn tổ nghề của họ. Điều này được thể hiện rõ trong không gian thờ ở mỗi nhà và đình ở mỗi khu phố.

Được lập ở giữa gian chính của ngôi nhà, bàn thờ gia tiên là nơi thể hiện lòng thành kính của con cháu đối với tổ tiên. Mỗi bàn thờ có sự bài trí khác nhau, song đều có bình hương, bài vị và ống hương, đèn nến… Ở các gia đình Hà Nội xưa, bàn thờ gia tiên còn có cả hoành phi và câu đối. Gian thờ với bát bảo cắm trên giá gỗ, hương án bày sát trong, trên tường hậu treo đại tự, câu đối, có cửa võng hoặc y môn, màn điều treo vén giáp cạnh ngoài. Hương án bày đồ thờ gồm cỗ ỷ, bài vị, bậc tam cấp đặt đài rượu, bình hương hoa, giấy thờ (bằng gỗ sơn son thiếp vàng), đôi lọ, bộ ngũ sự, hai bát hương sứ, giá chuông con.

Gian tiếp theo là phòng ngủ, không gian riêng tư của chủ nhà và không có gia nhân đi qua. Đằng sau là không gian sân cuối cùng và cũng chỉ có chủ nhà mới được sử dụng để thư giãn hoặc tập thể thao. Từ sân thượng có thể nhìn thấy mái ngói của khu bếp và vệ sinh.

Việc nghiên cứu tổ chức không gian nhà ở thị dân thời kỳ Pháp thuộc qua các tài liệu về văn hóa, lịch sử và các công trình nhà ở còn sót lại cho thấy một quá trình biến đổi văn hóa của người Hà Nội thời kỳ này. Do có sự du nhập của văn hóa từ phương Tây nên ở thời kỳ này thể hiện rõ sự giao thoa, tiếp biến văn hóa trong mọi mặt của đời sống văn hóa, kinh tế xã hội, đặc biệt thể hiện rõ nét nhất qua không gian sống của người dân phố thị. Từ cách ở theo kiểu tam, tứ đại đồng đường với rất nhều không gian chung của người thị dân phong kiến chuyển dần sang lối sống có phần tách biệt giữa các thành viên trong gia đình với những không gian riêng biệt do ảnh hưởng từ lối sống phương Tây. “Đặc biệt ở tầng lớp người Việt giàu có, Tây học thì ảnh hưởng này càng rõ rệt, những ngôi nhà tam, tứ đại đồng đường dần nhường chỗ cho các hình thức nhà ở biệt lập, mỗi ngôi nhà là nơi nương náu của một gia đình nhỏ, con cái đã dựng vợ gả chồng không còn sống chung với bố mẹ, thậm chí khi còn sống với bố mẹ thì con cái đã có phòng riêng” (6).

Người Hà Nội xưa là sự hợp lưu từ nhiều vùng miền trên cả nước hội tụ tại môi trường văn hóa lý tưởng đất kinh kỳ cộng với sự giao thoa văn hóa qua một giai đoạn lịch sử đã kiến tạo nên những con người thủ đô hào hoa, thanh lịch. Chính vì vậy, những công trình kiến trúc cũng như tổ chức không gian nhà ở thị dân Hà Nội thời kỳ Pháp thuộc đã phản ánh khá rõ nét mọi mặt về lối sống và văn hóa của người Hà Nội thời kỳ này. Những công trình này đều thể hiện sự kết tinh, chắt lọc tinh hoa văn hóa, nghệ thuật từ các địa phương khác. Trong tổ chức không gian ở, sắp xếp trong sinh hoạt của một gia đình người Hà Nội từ cách bố trí nội thất cho đến việc thờ cúng, tiếp khách, ăn uống… đều hàm chứa rất nhiều tinh hoa văn hóa được chắt lọc từ các nơi tạo ra giá trị văn hóa đặc trưng riêng của đất kinh kỳ.

____________

1. myhanoi.com.vn.

2. dulichhanoi.vn.

3, 4. baomoi.com.

5. hthkitchen.vn.

6. mag.ashui.com.

Nguồn : Tạp chí VHNT số 403, tháng 1 - 2018

Tác giả : BÙI THỊ THANH HOA

Ý kiến bạn đọc

Loading.....

(Vui lòng điền đầy đủ thông tin và gõ nội dung bằng tiếng Việt có dấu)

Bài viết liên quan