Văn hóaVăn hóa cổ truyền

Thứ Sáu, 15/06/2018 | 15:03 GMT+7

PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN THÀNH NHÀ HỒ TỪ KHAI THÁC KHU VỰC PHÍA ĐÔNG VÀ LÀNG CỔ ĐÔNG MÔN

Triều đại nhà Hồ tồn tại trong lịch sử dân tộc đã để lại dấu ấn đậm nét trong tư tưởng đổi mới, canh tân đất nước và những công trình xây dựng đạt đỉnh cao về kỹ thuật kiến trúc Việt Nam và khu vực. Kinh thành Tây Đô (Thành nhà Hồ ngày nay) ra đời và tồn tại đến ngày nay đã trở thành một biểu tượng kiến trúc vô tiền khoáng hậu trong lịch sử xây dựng kinh thành ở Việt Nam cũng như các nước khu vực Đông Á và Đông Nam Á. Với tính toàn vẹn, tích xác thực và giá trị nổi bật toàn cầu, Thành nhà Hồ đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, là minh chứng quan trọng ghi dấu ấn của triều đại nhà Hồ trong lịch sử dân tộc và nền văn minh của nhân loại.

Nhìn lại chặng đường từ sau khi Thành nhà Hồ được công nhận là di sản thế giới đến nay, có thể nhận thấy rằng chính quyền các cấp thuộc tỉnh Thanh Hóa đang nỗ lực thực hiện các cam kết và kế hoạch nhằm đưa Thành nhà Hồ trở thành một thương hiệu xứng tầm di sản văn hóa thế giới. Tuy nhiên, khách quan mà nói trong thời gian qua, công tác phát huy giá trị di sản phục vụ tham quan, du lịch vẫn chưa khai thác được những tiềm năng, thế mạnh vốn có của di sản này. Đặc biệt, giá trị không gian văn hóa khu vực phía đông và làng cổ Đông Môn thuộc xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc vẫn chưa được chú trọng khai thác như là một trong những thành tố quan trọng tạo nên sự đa dạng văn hóa trong một không gian văn hóa cụ thể của di sản Thành nhà Hồ.

Trong thời gian vừa qua, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành nhà Hồ đã tích cực xây dựng các tuyến tham quan khu di sản để phục vụ nhu cầu tham quan của du khách. Một thực tế có thể dễ dàng nhận thấy được rằng khách tham quan đến với khu di sản trong một thời gian rất ngắn, chủ yếu tập trung tham quan tại khu vực phía nam gắn với cổng nam di sản Thành nhà Hồ và phòng trưng bày bổ sung. Các tuyến tham quan du lịch được đưa ra triển khai thực hiện tại khu di sản nhưng không có tính khả thi do khoảng cách điểm tham quan nằm cách xa nhau, các di tích nằm độc lập và tương đối đơn điệu về sản phẩm du lịch cũng như không có sự phong phú từ đời sống văn hóa cộng đồng.

Xuất phát từ thực tiễn tại khu di sản này cũng như xu thế hướng về cội nguồn dân tộc trong tham quan du lịch hiện nay, việc khai thác và phát huy giá trị di sản Thành nhà Hồ trên cơ sở những thế mạnh từ tài nguyên văn hóa cộng đồng từ các làng cổ ở ngay cạnh di sản Thành nhà Hồ là một hướng đi tốt.Trong đó khu vực phía đông di sản và làng cổ Đông Môn có đầy đủ các yếu tố để cấu thành khu vực tham quan trọng điểm kết hợp tham quan di sản Thành nhà Hồ với làng cổ phụ cận thuộc khu vực lõi di sản Thành nhà Hồ.

Việc khai thác, phát huy giá trị khu di sản trên cơ sở những thế mạnh từ tài nguyên văn hóa cộng đồng từ các làng cổ thuộc khu phía đông và phía tây di sản sẽ phát huy được những thế mạnh từ sự tham gia tích cực của cộng đồng là 292 hộ dân sinh sống trong khu vực lõi và những hộ dân sinh sống trên các trục đường dẫn vào di sản. Khi cộng đồng được hưởng lợi từ quá trình khai thác phát huy giá trị khu di sản, tự bản thân cộng đồng sẽ làm phong phú, đa dạng các loại hình dịch vụ để phục vụ phát huy giá trị khu di sản. Bên cạnh đó, việc khai thác, phát huy giá trị khu di sản từ cộng đồng các làng cổ thuộc khu di sản sẽ tận dụng được lợi thế sẵn có từ những tài nguyên văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với cộng đồng, đó là hệ thống di tích gần nhau - khu thành nội Thành nhà Hồ, nhà cổ làng Đông Môn, đình Đông Môn, đền bà Bình Khương và thuận lợi trong trục đường vành đai dẫn đến phòng trưng bày bổ sung và cửa nam khu di sản Thành nhà Hồ. Đây là tuyến thuận lợi nhất trong việc đưa du khách tham quan di sản gắn với cộng đồng và các làng cổ. Sức mạnh từ tài nguyên văn hóa của cư dân sống trong các làng cổ Đông Môn, Tây Giai từ những nét văn hóa truyền thống lâu đời, tính cố kết cộng đồng làng xã cao cùng những sản vật địa phương phong phú, độc đáo cũng chính là những thế mạnh sẵn có để phục vụ việc khai thác và phát huy giá trị khu di sản trong thời gian tới. Khu vực phía đông di sản và làng cổ Đông Môn có nguồn tài nguyên văn hóa tương đối đậm đặc, cụ thể như sau:

Đình Đông Môn: được xây dựng vào TK XIX thuộc làng Đông Môn, xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc là ngôi đình lớn, có giá trị lịch sử nghệ thuật cao. Tại ngôi đình còn lưu giữ một số hiện vật liên quan đến di tích Thành nhà Hồ và nhiều sinh hoạt truyền thống gắn với ngôi làng cổ của kinh đô xưa. Từ năm 2007 đến năm 2009 đình được trùng tu, tôn tạo. Đình được xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc cấp tỉnh năm 1992.

Đền Bình Khương: thuộc địa phận thôn Đông Môn, xã Vĩnh Long là nơi thờ nàng Bình Khương phu nhân của cống sinh Trần Công Sỹ, một trong những người chỉ huy xây dựng tường thành phía đông của thành Tây Đô. Đền được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 1995.

Nhà cổ Đông Môn: kiến trúc các ngôi nhà được thực hiện theo lối cổ, đa phần là kiến trúc gỗ với kiểu cách xây dựng có cột kèo được điêu khắc tương đối tinh xảo và được xây dựng theo kiểu ba gian hai chái hoặc năm gian hai trái. Do ít chịu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa nên cư dân làng cổ Đông Môn đa phần vẫn bảo tồn tương đối tốt, giữ nguyên nếp nhà cổ được thế hệ trước xây dựng cho đến ngày nay.

Di tích thành nội Thành nhà Hồ (Hoàng thành) có diện tích 142,2 ha thuộc địa phận 2 xã Vĩnh Long và Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Về mặt kiến trúc, thành có bình đồ gần vuông, mặt chính quay về hướng đông nam, với đường trục chính theo hướng đông bắc - tây nam, lệch bắc 450. Hai tường thành phía nam và phía bắc dài 877,1m và 877m, hai tường thành phía đông và phía tây dài 879,3m và 880m, thành có chu vi 3513,4m và diện tích 769.086m2 (1). Kiến trúc cơ bản của khu vực Hoàng thành bao gồm: tường thành, hào thành, cửa thành và kiến trúc bên trong thành. Tường thành được xây bằng các khối đá khổng lồ có hình khối chữ nhật hoặc gần vuông, xếp không trùng mạch theo hình chữ công. Trên thực tế, tường thành được cấu tạo bởi ba lớp ngoài, giữa và trong, gắn kết chặt chẽ với nhau bằng một kỹ thuật xây dựng đặc biệt. Lớp ngoài của tường thành được xây dựng bằng “những khối đá vôi to lớn, được đẽo gọt và ghép một cách tài tình” (2). Tất cả các khối đá xây được đẽo gọt, tinh chế thành các khối đá vuông thành, nhẵn bề nặt ngoài, với kích thước trung bình 2,2 x 1,5 x 1,2m, cá biệt có khối có kích thước tới 4,2 x 1,7 x 1,5m và 5,1 x 1 x 1,2m. Khối đá lớn nhất nặng tới khoảng 26,7 tấn. Tường thành được thiết kế và xây dựng theo kiểu kiến trúc thượng thu, hạ thách. Kỹ thuật này thể hiện rõ nhất là ở các điểm bắt góc của thành. Những khối đá to lớn nhất được xếp dưới thấp, càng lên cao, kích thước của chúng càng giảm đi nhằm tạo sự vững chắc cho tòa thành. Các khối đá ở phía tây, phía nam và phía đông có kích thước lớn, bề mặt rộng, mạch xếp khít. Trong khi ở phía bắc chúng có kích thước nhỏ hơn, do vậy số lượng các hàng đá cũng lớn hơn. Ở mặt bên trong, các khối đá này được chèn nối tiếp kiểu nanh sấu, liên kết chặt chẽ với nhau bằng các khớp, ăn sâu vào trong lõi tường tới khoảng 4m. Đá dăm trộn chất kết dính được đổ đầy vào các khoảng trống của những khối đá này. Với kỹ thuật đa dạng như vậy, các khối đá liên kết với nhau rất chắc chắn theo chiều ngang và chiều dọc, giữa lớp trong và lớp ngoài bằng khớp, giữa lớp trên với lớp dưới bằng sức nặng. Để đảm bảo độ vững chắc của tường thành người ta đã tạo chân móng tường bằng cách kè các khối đá tảng lớn chìa rộng hơn tường thành. Mặt trên của các tảng đá kè móng được đẽo bằng phẳng, các mặt khác vẫn còn nguyên vỏ đá tự nhiên, sau đó xếp đặt đá xây tường thành lên trên. Bên dưới lớp đá tảng này, lại được đầm nện chặt bằng các lớp đất sét trộn sỏi và đá dăm, dày ít nhất là 70cm. Lớp giữa (lõi tường) được đắp bằng đá mồ côi (các khối đá rời tự nhiên), chèn ốp bên trong theo từng lớp đá bên ngoài. Lớp trong là lũy đất đắp bằng đất sét trộn cát sỏi, nện kỹ từng lớp, có độ dốc thoải dần vào phía trong thành (3). Cứ dày khoảng 60-70cm lại có một lớp cát mỏng trộn với sỏi. Bề mặt tường thành rộng chừng 4-5m, thoải dần vào phía trong. Tại một điểm ở thành phía đông, độ dày đo được dưới chân bức tường thành là 21,365m (4). Để hoàn chỉnh công trình này, con số ước tính hơn 100.000m3 đất đã được đào đắp, hơn 20.000m3 đá, trong đó có nhiều khối đá nặng trên 20 tấn đã được khai thác, vận chuyển và lắp đặt (5). Hệ thống hào thành được xây dựng bao quanh các bức tường thành. Kết quả khai quật, khảo cổ học năm 2015 và năm 2016 đã xuất lộ rõ kiến trúc Hào thành khu vực phía Nam và phía bắc di sản Thành nhà Hồ. Hào phía bắc và phía nam nằm cách tường thành khoảng 70m, khoảng cách từ tường thành đến hào còn nhiều tấm đá xây thành nằm rải rác và trong ruộng lúa sát chân thành. Hào phía đông nằm cách tường thành khoảng 100m, hai bờ hào trồng nhiều bụi tre, và nhiều loại cây cối khác. Khoảng cách từ tường thành đến hào chủ yếu là nơi dân cư làng Đông Môn sinh sống. Hào phía tây nằm cách tường thành 120m, vết tích hào nằm trong ruộng lúa lún sâu khoảng 0,8m. Trong khoảng cách này, dân cư làng Tây Giai sinh sống và trồng lúa. Mặt hào rộng nhất còn nhận thấy ở phía tây là 19,09m, ở phía nam là 18,18m. Ở hai phía Bắc và phía đông, hào còn rộng 12,18m và 10,67m (6). Các cửa thành được mở theo 4 hướng, ở chính giữa tường thành và được xây theo kiểu vòm cuốn, có kỹ thuật xây dựng tương đối giống nhau: bên dưới đặt những khối đá lớn làm nền, các khối đá hình chữ nhật xếp bên trên tạo thành thân cửa. Phần vòm cửa được xây bằng các viên đá được chế tác hình múi bưởi (hay hình thang cân), tạo nên phần cuốn hình vòm. Các cửa này được xây, xếp với độ chính xác cao tạo nên nét đặc sắc của tòa thành. Trong 4 cửa, cửa nam được xây dựng lớn nhất với ba vòm cửa, còn các cửa khác chỉ có một vòm. Cửa phía nam (còn gọi là cửa Tiền) dài 34,850m, độ cao hiện còn từ mặt nền hiện tại 7,65m, dày 15m, được xây thành 3 vòm cuốn, vòm giữa cao 8,5m, rộng 5,850m hai vòm bên cao 7,8m, rộng 5,455 và 5,470m. Phần móng của các vòm cuốn cửa thành sử dụng các khối đá xanh lớn, chờm ra khỏi chân trụ. Có viên chờm ra rộng 0,98m, dày 0,74m, dài khoảng 2,3m. Các dấu tích hèm cửa hình chữ nhật, rãnh cửa trên tường và dưới nền và hai cối cửa hình tròn trên mặt nền, gợi ý các cửa vòm đều có khung cửa gỗ với hai cánh mở vào bên trong. Cửa phía bắc dài 21,342m, cao 8,098m, sâu 13,55m tạo một vòm cuốn cao 5,425m, rộng 5,80m. Trên nóc vòm cuốn lát đá tạo một mặt bằng rộng 12,7m, dài 20m. Trên mặt nền hiện còn dấu tích 22 lỗ chân cột tròn có đường kính 0,45m và đục sâu xuống nền đá 0,45m, đó là chân cột của một công trình kiến trúc rộng khoảng 97m2, có kết cấu khung gỗ kiểu 3 gian 2 chái, 6 vì. Mỗi vì có 4 cột, trừ hai vì gian giữa chỉ có 3 cột. Mặt trong của công trình gỗ này có một hành lang được tạo bởi những lỗ cột vuông, cạnh dài 0,11m và đục sâu xuống nền đá 0,07m. Giữa các lỗ cột có ngách nối thông nhau và nối ra tường ngoài nhằm liên kết các cột gỗ với. Cửa phía đông dài 23,3m, sâu 13,4m, rộng 5,8m, vòm cuốn chiều cao còn lại 6,8m. Cửa phía tây dài 19,3m, sâu 13,4m, rộng 5,7m, vòm cuốn cao 6,16m (7). Các phiến đá trên nóc cửa và hai bên cánh của hai cửa này hiện bị vỡ tương đối nhiều.

Về hệ thống đường đi, từ cửa nam, một con đường, cũng là trục chính của kinh thành chạy thẳng lên phía cửa bắc đã bắt đầu xuất lộ. Về phía nam, con đường này chạy tới đàn Nam Giao (được xây dựng năm 1402) trên núi Đốn Sơn. Trục đường chính, phần ở khu vực cửa nam, được thư tịch cổ gọi là đường Cái Hoa, Hoa Nhai hay Hòe Nhai. Cuộc khai quật ở khu vực cửa nam năm 2008 đã phát hiện dấu tích của con đường cổ chạy từ trong thành, qua cửa nam về núi Đốn Sơn. Theo các nguồn sử liệu, đường trong thành được bố trí quy củ thuận lợi cho việc đi lại trong thành, “đường đi lối ngang lối dọc đều được lát đá hoa” (8). Phần đường bên trong thành cũng được lát toàn bằng đá xanh nguyên khối. Phần đường bên ngoài thành được lát bằng đá phiến nhiều cỡ và bó vỉa bằng đá xanh nguyên khối. Một số viên có kích thước lớn, dài tới 2,5m hoặc 2,7m, rộng tới 50-60cm. Lòng đường trong nội thành rộng 4,85m, bên ngoài thành rộng 4,35m. Phần nền đường bên trong cửa được làm cao hơn bên ngoài 10cm và lát bằng các khối đá lớn hình chữ nhật, phần lớn đã bị rạn vỡ do việc làm đường gần đây. Những dấu tích này đã minh chứng đây là con đường chính trong thành và cũng là con đường lát đá dẫn đến đàn Nam Giao trên núi Đốn Sơn như sử sách đã nói. Dọc con đường từ Cửa Nam đến núi Đốn Sơn hiện nay, quá trình xây dựng đã làm xuất lộ rất nhiều phiến đá dùng để xây con đường cổ này (9).

Gắn liền với khu vực phía đông và vốn văn hóa của làng cổ Đông Môn, khu vực Hoàng thành được coi là một thành phần quan trọng trong hình thành một tuyến tham quan khép kín. Do vậy trong quá trình khai thác tiềm năng, thế mạnh của làng cổ Đông Môn cũng cần đặc biệt chú trọng khu vực này. Bên cạnh đó, lễ hội làng Đông Môn được tổ chức vào 15 tháng giêng âm lịch hàng năm kết hợp với các loại hình di sản văn hóa phi vật thể như diễn xướng dân gian, trò chơi, trò diễn, múa hát cửa đình... do nhân dân làng Đông Môn gìn giữ và lưu truyền đến ngày nay cũng là một trong những lợi thế quan trọng để thu hút tham quan, tạo nền móng cho quá trình khai thác và phát huy giá trị di sản Thành nhà Hồ từ cộng đồng dân cư nơi đây.

Để thực hiện được mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng trên cơ sở khai thác tiềm năng, thế mạnh từ không gian văn hóa khu vực phía đông di sản và làng cổ Đông Môn, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành nhà Hồ phải xây dựng phương án cụ thể, chủ động phối hợp với chính quyền tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng địa phương thông qua tuyên truyền, vận động để cộng đồng thấy được lợi ích của việc phát huy giá trị khu di sản dựa vào thế mạnh của địa phương. Bên cạnh đó, Trung tâm phải phối hợp với các đơn vị du lịch trong tỉnh như: Hiệp hội Du lịch, phòng Quản lý Tài nguyên Du lịch, phòng Khai thác tài nguyên Du lịch, các cơ quan thông tấn, báo chí… tiến hành quảng bá mô hình du lịch này đồng thời xây dựng các tour, tuyến tham quan mà điểm đến chính là các làng cổ phụ cận thuộc khu di sản Thành nhà Hồ. Trước mắt, Nhà nước phải có những đầu tư bước đầu cho một số cơ sở hạ tầng thiết yếu như: hệ thống đường xá, cảnh quan cây xanh, bóng mát, bến bãi giao thông, khu vệ sinh, khu dịch vụ… tại các khu vực làng cổ thuộc khu di sản. Nhằm tranh thủ sự ủng hộ về vật chất và trí tuệ của các tổ chức, cá nhân trong thực hiện mô hình du lịch này, Trung tâm cần phối hợp với đơn vị du lịch của tỉnh, các công ty du lịch, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ trong việc hỗ trợ cộng đồng lựa chọn địa điểm, xây dựng các điểm du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch đồng ruộng khu vực phía đông di sản Thành nhà Hồ và làng cổ Đông Môn.

___________

1. Trịnh Thị Hường, Thành Tây Đô - Thanh Hóa di tích và danh thắng, tập 1, Nxb Thanh Hóa, 2000.

2. Nancy Shatzman Steinhardt, Chinese Imperial city planning, University of Hawaii Press, Honolulu,1990, tr.86.

3, 5. Nguyễn Thị Thúy, Thành Tây Đô và vùng đất Vĩnh Lộc (Thanh Hóa) từ cuối thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XIX, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Thư viện Quốc gia Việt Nam, 2009, tr.86, 70.

4, 6. Công ty tư vấn xây dựng công trình văn hóa và đô thị, Hồ sơ đo vẽ hiện trạng công trình Thành Nhà Hồ, 2004, số 109, BV 45, 216, 217.

7. Hán Văn Khẩn, Đặng Hồng Sơn, Báo cáo khai quật lần thứ nhất di tích Thành nhà Hồ (Vĩnh Lộc - Thanh Hóa), tư liệu Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, tr.6.

8. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nxb Sử học, Hà Nội, 1960.

9. Nguyễn Thị Thúy, Không gian văn hóa Thành nhà Hồ và di sản làng cổ phụ cận, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 356, tháng 2-2014.

Nguồn : Tạp chí VHNT số 408, tháng 6 - 2018

Tác giả : NGUYỄN BÁ LINH

Ý kiến bạn đọc

Loading.....

(Vui lòng điền đầy đủ thông tin và gõ nội dung bằng tiếng Việt có dấu)

Bài viết liên quan