Văn hóaVăn hóa đương đại

Thứ Tư, 15/07/2009 | 00:00 GMT+7

XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP, NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN

 

 

1. Vài nét về văn hóa doanh nghiệp

 

Xây dựng văn hóa doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường là một vấn đề không mới đối với thế giới, nhất là các nước phát triển, nhưng lại gần như mới ở nước ta. Mới, không chỉ bởi những thành tựu xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở những điều kiện khác biệt trước kia chưa đủ để tạo nền tảng xây dựng văn hóa doanh nghiệp thời hội nhập mà còn bởi bản thân khái niệm văn hóa doanh nghiệp đã hàm trong nó những vấn đề sâu, rộng và không ít phức tạp.

Văn hóa doanh nghiệp được nhận biết, thấu hiểu và truyền lan ra xã hội bởi khái niệm và nội hàm của nó. Nhưng đây là một việc không kém phức tạp. Chỉ riêng việc định nghĩa một cách thật chân xác, giản dị: thế nào là văn hóa doanh nghiệp; doanh nghiệp có văn hóa là gì; nội hàm và nội dung của văn hóa doanh nghiệp, doanh nghiệp văn hóa gồm những gì; văn hóa doanh nhân ra sao; doanh nhân văn hóa là người thế nào; văn hóa kinh doanh và kinh doanh có văn hóa được hiểu ra sao... cũng đã là một việc không dễ dàng trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam.

Ở mức độ tối giản, nội hàm văn hóa doanh nghiệp được cấu thành một cách hòa quyện, nhuần nhuyễn 3 yếu tố: văn hóa doanh nhân, văn hóa kinh doanh và văn hóa quản lý của một doanh nghiệp nhất định. Hay nói cách khác, đó là một giá trị tổng hòa của sự kết hợp về lượng và chất của đội ngũ con người; thiết chế tổ chức doanh nghiệp và môi trường kinh doanh... Vì thế, văn hóa doanh nghiệp, ngoài những giá trị kinh tế, xã hội, đạo đức, ứng xử... còn ẩn chứa, ở mức độ nhất định, những giá trị tâm linh.

Do đó, một cách khái quát, có thể hiểu: văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ những giá trị, những tài sản vật chất và tinh thần được tạo ra trong suốt quá trình hình thành, phát triển của doanh nghiệp, tác động và chi phối lý trí, tình cảm, hành vi... của các thành viên trong doanh nghiệp, tạo nên đặc trưng và sự khác biệt giữa các doanh nghiệp.

Tuy nhiên, trong khi thể hiện cái riêng, cái đặc trưng của mỗi doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp cũng hàm trong nó những đặc điểm chung, doanh nghiệp nào cũng phải có hoặc phải dựa vào như một cơ sở quan trọng. Đó là đường lối văn hóa của Đảng, truyền thống văn hóa dân tộc, đạo lý kinh doanh người Việt, đạo đức và ứng xử văn hóa Việt Nam, là sự gắn kết với văn hóa cộng đồng, văn hóa gia đình... Có thể dẫn ra nhiều điều kiện cơ bản khác nữa, nhưng nhìn chung, đó là những điều doanh nghiệp cần chú trọng khi xây dựng văn hóa doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu doanh nghiệp Việt Nam, thương hiệu quốc tế.

Về sự cấu thành văn hóa doanh nghiệp có thể chú ý tới một số khía cạnh sau:

Những giá trị được thể hiện ở bề nổi, hữu hình như thiết chế, phương tiện, công nghệ, sản phẩm, kế hoạch, chương trình...

Những giá trị được thể hiện ở truyền thống phát triển doanh nghiệp, bao gồm các giá trị từng tồn tại và các giá trị mới.

Những giá trị ngầm định được thể hiện như một nền tảng của doanh nghiệp như niềm tin, nhận thức, suy nghĩ, xúc cảm... trong đội ngũ, trong từng cá nhân con người của doanh nghiệp, quy định giá trị và hành động của mỗi thành viên, rất khó thấy, nhưng lại rất quan trọng.

Những giá trị được thể hiện thông qua hoạt động của doanh nghiệp như phong cách quản lý, đạo đức, ứng xử, phong cách làm việc, cách thức thông tin, sản phẩm và giá trị sản phẩm, thương hiệu...

Như thế, có thể thấy, văn hóa doanh nghiệp có tầm quan trọng và vị thế hết sức to lớn, quyết định sự phát triển bền vững hay không của doanh nghiệp. Nó giúp cho doanh nghiệp, tạo động lực làm việc, quản lý và tự quản lý con người, tránh được những bất đồng trong nội bộ doanh nghiệp và tạo lợi thế cạnh tranh, tạo thương hiệu thông qua hiệu quả lao động và tính đặc thù văn hóa của doanh nghiệp.

Văn hóa doanh nghiệp, hay văn hóa tổ chức doanh nghiệp, nếu nhìn nhận ở một phạm vi nhỏ hơn, cuối cùng chỉ đơn giản là sự phối kết một cách hòa quyện thật sự giữa những yếu tố cơ bản: giá trị (sự lựa chọn định hướng giá trị, định hướng cách hành xử của doanh nghiệp); hệ thống chuẩn mực (tiêu chuẩn quy định và hướng dẫn đạo lý, ứng xử trong doanh nghiệp); thiết chế tổ chức (thương hiệu, lôgô, khẩu hiệu, trang phục, nghi lễ, nghi thức ứng xử, giao tiếp...); phong cách quản lý (dân chủ hay độc đoán, tôn trọng nhân cách hay phủ nhận nhân cách, lấy lợi nhuận làm trọng hay phát triển hài hòa làm trọng...); bầu không khí tinh thần của doanh nghiệp (lành mạnh hay không lành mạnh, có ý thức cộng đồng hay sự lấn lướt của cá nhân, tương kính tương thân hay ganh ghét tị nạnh...).

Những yếu tố bộ phận ấy, khi kết hợp lại dưới dạng tổng thể bằng một phương thức nào đó, sẽ quyết định tính nổi trội hay nghèo nàn, lỏng lẻo hay bền vững của văn hóa doanh nghiệp.

Như thế, vấn đề định danh, tìm nội hàm, xem xét nội dung, phân tích diễn trình, đề xuất giải pháp... đối với xây dựng văn hóa doanh nghiệp hiện nay, quả thực là điều nan giải. Đó phải là một công việc dài hơi, cần sự tham vấn của nhiều đối tượng xã hội. Đó cũng là công việc không phải một sớm một chiều có thể hoàn tất. Tách bạch từ cái khối vấn đề rộng lớn và phức tạp ấy để xem xét một bộ phận nhỏ, chúng tôi thử quan tâm đến việc: vậy thì trong bối cảnh hiện nay, doanh nghiệp và văn hóa doanh nghiệp của chúng ta đang có những thuận lợi và đang gặp những khó khăn gì cả về chủ quan lẫn khách quan.

 

 

2. Những thuận lợi khi xây dựng văn hóa doanh nghiệp

 

Chúng ta có thể nhận biết rất rõ những thuận lợi khách quan đang tạo nên tiền đề xây dựng văn hóa doanh nghiệp trong điều kiện cơ chế thị trường.

Về mặt định hướng, các văn kiện của Đảng về kinh tế và văn hóa đều hết sức chú trọng đến việc "tập trung nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước..."(1). Và chúng ta chủ trương xây dựng và "thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển doanh nghiệp. Xây dựng một hệ thống doanh nghiệp Việt Nam có sức cạnh tranh cao, có thương hiệu uy tín, trong đó chủ lực là một số tập đoàn kinh tế lớn dựa trên hình thức cổ phần"(2). Rõ ràng, đường lối, định hướng đúng đã tạo nền cho những thành tựu phát triển kinh tế xã hội, mà hệ thống doanh nghiệp trong và ngoài nhà nước đã có những đóng góp không nhỏ.

Giao lưu, hội nhập về kinh tế và văn hóa, ở mặt phải của quá trình này, đã tạo nên sức mạnh liên kết, đầu tư, phối hợp giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, tạo nên những biến đổi về chất trong hoạt động của các doanh nghiệp trong nước trên các mặt: đầu tư hoạt động, phong cách chỉ đạo, phong cách hoạt động, mở rộng môi trường và thị trường sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh. Bối cảnh này thực sự tạo thuận lợi nếu các doanh nghiệp nắm bắt được thời cơ và tận dụng được điều kiện phát triển.

Tinh thần kinh doanh cởi mở được khuyến khích trong tất cả các thành phần kinh tế thực sự là một bầu khí quyển thuận lợi. Sẽ rất dễ thấy đây là một thuận lợi to lớn nếu ta nhìn lại truyền thống kinh doanh, sắc thái kinh doanh trong nền kinh tế nông nghiệp lúa nước; trong nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, kế hoạch hóa... thời kỳ trước đổi mới. Đó là "nhất sĩ, nhì nông", là "dĩ nông vi bản", là "trọng nông ức thương"... với chợ làng, với sự lẹt đẹt của nghề thủ công nhỏ, chủ yếu trao đổi đáp ứng nhu cầu sinh hoạt đời thường. Đó là hoạt động doanh nghiệp trên cơ sở đáp ứng kế hoạch pháp lệnh, làm chơi, ăn thật, không chú trọng tới chất lượng (nhiều khi cả số lượng) sản phẩm, không lo cạnh tranh, nghiên cứu, cải tiến, không cần biết người tiêu dùng cần gì, muốn gì... Tinh thần kinh doanh không có hoặc có cũng trì trệ. Hiệu quả công việc không được chú ý. Môi trường kinh doanh, dù có đôi cái được, vẫn ảm đạm bởi tâm lý e ngại làm giàu, tâm lý sợ làm nảy sinh phân cấp giàu nghèo... Sự đói nghèo, khủng hoảng kinh tế những năm trước đổi mới là hệ quả, cũng như minh chứng cho sự thiếu cởi mở của tinh thần và môi trường kinh doanh. Do đó, sự cởi mở về tinh thần kinh doanh, môi trường kinh doanh thật sự là một thuận lợi lớn khi doanh nghiệp cũng như cả nền kinh tế được cởi trói khỏi tâm lý kỳ thị kinh doanh, coi thường thương nghiệp, ghét làm giàu công khai.

Về cơ bản, hành lang pháp lý, pháp luật, chính sách... cho việc đổi mới và phát triển doanh nghiệp ở nước ta là đồng bộ và tương đối đầy đủ. Chỉ cần tuân thủ đúng đắn trên cơ sở sáng tạo tùy thuộc vào đặc điểm thực tiễn, doanh nghiệp ở nước ta có đủ điều kiện thuận lợi về hành lang pháp lý cho việc phát triển và ổn định hoạt động trong thị trường mới năng động và linh hoạt.

Đất nước ta có một đội ngũ lao động có tri thức, cần cù, sáng tạo, dễ thích ứng, sức lao động rẻ... Đó là những tiềm năng thuận lợi. Các doanh nghiệp chỉ cần biết tận dụng đội ngũ lao động ấy, nhận biết, phát huy tiềm năng của họ, tập trung tiềm năng ấy cho công việc, cho hoạt động phát triển doanh nghiệp và nền kinh tế chung.

Dân tộc ta có truyền thống đạo đức và văn hóa kinh doanh bắt nguồn từ bản sắc văn hóa của dân tộc. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự tiếp tục và phát triển văn hóa kinh doanh, văn hóa quản lý, văn hóa ứng xử, đạo đức con người trong doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, còn có những thuận lợi chủ quan, tức thuận lợi được tạo nên bởi bản thân các doanh nghiệp.

Không ít doanh nghiệp ở Việt Nam đã có thời gian hoạt động khá lâu, đã xây dựng được triết lý và chiến lược kinh doanh mang đậm sắc thái văn hóa Việt Nam. Có thể kể đến cà phê Trung Nguyên, may Thái Tuấn, giày dép Biti's, tập đoàn y dược Bảo Long, may 10...

Tính cộng đồng trong phát triển doanh nghiệp, ở một góc độ nhất định, được phát huy dưới nhiều hình thức, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong hệ thống các doanh nghiệp ở nước ta. Kế thừa phương thức truyền thống "buôn có bạn, bán có phường", không ít doanh nghiệp đã phối hợp, liên doanh liên kết trong hoạt động sản xuất sản phẩm, hoặc chịu sự chi phối của các hội nghề nghiệp trong rất nhiều vấn đề, từ sản xuất đến xuất sản phẩm, nhập nguyên liệu... Ở Việt Nam, đây là một yếu tố thuận lợi giúp các doanh nghiệp có cùng triết lý và kế hoạch kinh doanh hội tụ lại để cạnh tranh tốt hơn với bên ngoài (nhưng có thể lại làm giảm cạnh tranh bên trong).

Đại đa số các doanh nghiệp Việt Nam đề cao và tuân thủ một trong những tiêu chí quan trọng của kinh doanh: giữ chữ tín. Đây cũng là đặc trưng truyền thống trong kinh doanh nói chung và kinh doanh ở Việt Nam nói riêng. Đặc trưng này phù hợp và đáp ứng tốt đòi hỏi của việc phát triển doanh nghiệp và kinh doanh theo cơ chế thị trường.

Ngoài triết lý kinh doanh và chiến lược phát triển doanh nghiệp, các doanh nghiệp Việt Nam đều có được văn hóa đạo đức và văn hóa ứng xử phù hợp trong phát triển doanh nghiệp và kinh doanh sản phẩm. Dựa trên nền tảng văn hóa truyền thống, những phương diện đạo đức và ứng xử của doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn cơ bản dựa trên tính cộng đồng bền chặt, sự phối hợp và liên kết, sự chia sẻ của cộng đồng trong sản xuất và kinh doanh hàng hóa, thậm chí trong tìm tòi triết lý và chiến lược kinh doanh.

Việt Nam có không ít doanh nhân giỏi cả ở trong và ngoài nước. Nếu phát huy được tiềm năng và tố chất của người đứng đầu kết hợp với việc tập trung tiềm năng của đội ngũ con người, đồng thời có triết lý và chiến lược kinh doanh tốt, nhận được sự chia sẻ của cộng đồng... thì chắc chắn sẽ có nhiều thương hiệu đạt đến tầm khu vực và quốc tế.

Doanh nhân và doanh nghiệp Việt Nam có khả năng dễ nắm bắt và tiếp thu cái mới, linh hoạt, thích ứng nhanh với sự biến đổi của tự nhiên, xã hội và những nhân tố bên ngoài. Đây là một tố chất cần thiết trong nắm bắt và giải quyết vấn đề trong kinh doanh thời kinh tế thị trường.

Trong tương quan chung, chúng tôi đã nêu những thuận lợi khách quan và chủ quan trong việc xây dựng doanh nghiệp và văn hóa doanh nghiệp ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, đó chỉ là một vài trong số rất nhiều thuận lợi đang có của doanh nghiệp Việt Nam thời hội nhập. Biết khai thác đúng đắn, phù hợp những thuận lợi này, doanh nghiệp sẽ có một nền tảng tốt để vượt lên, phát triển bền vững.

 

 

3. Những khó khăn khi xây dựng văn hóa doanh nghiệp

 

Có thể nêu một số khó khăn khách quan mà doanh nghiệp gặp phải trong quá trình xây dựng văn hóa doanh nghiệp và phát triển bền vững doanh nghiệp.

Dù rằng ở nước ta, đường lối, hành lang pháp lý, chính sách phát triển doanh nghiệp đã rất rõ ràng, song sự thiếu hụt và lỏng lẻo về thể chế là điều có thể nhận ra. Nhu cầu hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường theo hướng khuyến khích các loại hình doanh nghiệp là một nhu cầu cần thiết và cấp bách. Đặc biệt, việc chú trọng sao cho hệ thống thể chế này đáp ứng được không chỉ nhu cầu của các doanh nghiệp mà còn quy luật thị trường và các chuẩn mực quốc tế là vấn đề cần được cân nhắc để đạt độ hài hòa trong phát triển doanh nghiệp trong nước.

Tính đa dạng của cạnh tranh kinh doanh trong và ngoài nước, với những sắc thái nhiều khi mâu thuẫn và cực đoan (có loại kinh doanh tôn trọng giá trị văn hóa, môi trường và con người, có loại kinh doanh bất chấp thủ đoạn vì lợi nhuận...), đặt ra những khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc lựa chọn triết lý, chiến lược, phong cách... kinh doanh và phát triển doanh nghiệp. Không lựa chọn đúng thì rất dễ dẫn tới phá sản.

Sự đa dạng tới mức nhiễu loạn về tính chất, mục đích kinh doanh và tạo lập doanh nghiệp (kinh doanh nhằm kiếm tiền, kinh doanh mong để lại danh tiếng với đời, kinh doanh để củng cố uy tín, kinh doanh để khuếch trương địa vị, kinh doanh để nối dòng truyền thống, để thể hiện khát vọng vươn lên... là một vài ví dụ) đã khiến cho không ít khi tầm vóc, vị thế của doanh nghiệp tản mạn, không rõ ràng, không tạo được một triết lý kinh doanh thuyết phục. Đó phải chăng chỉ là bề sâu cá nhân. Có lẽ, xét đến cùng, trong thời hội nhập, tính chất và mục đích của toàn bộ các doanh nghiệp Việt Nam là làm cho Việt Nam cất cánh, là tôn vinh văn hóa Việt, thương hiệu Việt ở trong nước và nước ngoài. Đã đến lúc mục tiêu nhỏ phải được đặt trong mục đích lớn, tạo nên sự cất cánh không chỉ của doanh nghiệp Việt Nam mà còn của văn hóa doanh nghiệp Việt Nam.

Nhà nước và xã hội chưa thực sự quan tâm hỗ trợ các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Bản thân việc tìm hiểu những khái niệm văn hóa doanh nghiệp, văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nhân... từ truyền thống đến hiện đại mới đang ở bước khởi động, lại chưa thực sự thống nhất quan điểm. Việc ấn định chuẩn mực chung để áp dụng vào doanh nghiệp, do thế, vẫn chưa được thực hiện. Thực tiễn cho thấy, ở nước ta, mỗi doanh nghiệp đều đang mày mò tự xây dựng văn hóa của mình trên cơ sở triết lý, chiến lược, phong cách, thói quen, truyền thống chung và riêng, không tránh khỏi tản mạn, manh mún. Đây thực sự là một khó khăn lớn. Do thế, một việc cần làm ngay là phải tổng kết thực tiễn phát triển văn hóa doanh nghiệp, phân tích, tìm hệ quy chuẩn chung để trên cơ sở đó, doanh nghiệp có thể xây dựng văn hóa doanh nghiệp, tất nhiên với phương thức là kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn quy chuẩn chung với những nét riêng mà tự doanh nghiệp tìm thấy trong suốt quá trình phát triển của mình.

Đã xuất hiện sự phân cấp, phân tầng giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân. Đúng ra là bất bình đẳng. Sự bất bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp phi nhà nước đã tạo ra những khó khăn không nhỏ cho doanh nghiệp tư nhân không chỉ trong đầu tư vốn, sản xuất sản phẩm, tạo lập thị trường... mà còn trong cả kinh doanh, quan hệ với người tiêu dùng. Tóm lại là khó khăn tổng thể, toàn diện. Gỡ bỏ sự bất bình đẳng này phải là một vấn đề được quan tâm giải quyết để tạo thế bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh trong phát triển toàn bộ các doanh nghiệp ở Việt Nam.

Tính lưỡng diện của văn hóa doanh nghiệp, văn hóa kinh doanh ở Việt Nam, khiến các doanh nghiệp, ngoài việc thể hiện những mặt mạnh và yếu tố tích cực, đang ngày càng bộc lộ những mặt yếu và yếu tố tiêu cực trong văn hóa kinh doanh, văn hóa ứng xử, giao tiếp, đạo đức doanh nhân, đạo đức kinh doanh... Khinh miệt lao động chân tay, coi thường thương nghiệp, không coi trọng doanh nhân, dễ thỏa mãn, thói quen ỷ lại, thiếu ý thức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm, tùy tiện, dễ thất tín, thực hành chậm, thói quen nặng tình nhẹ luật, nặng bổng nhẹ lương, bình quân chủ nghĩa... (3) là những biểu hiện xuất hiện nhiều trong thực tiễn. Đây thực sự là khó khăn đối với sự phát triển văn hóa doanh nghiệp, doanh nhân, kinh doanh trong cơ chế thị trường.

Còn có thể kể ra rất nhiều khó khăn khác nữa về mặt khách quan đang cản trở sự phát triển văn hóa doanh nghiệp, nhưng những khó khăn vừa nêu mang tính chính yếu.

Bên cạnh đó, có một số khó khăn mang tính chủ quan trong phát triển văn hóa doanh nghiệp trong bối cảnh mới.

Về cơ bản, người đứng đầu doanh nghiệp chưa thực sự coi trọng việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp mà chỉ coi trọng hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh. Ở đây có vấn đề về nhận thức. Việc chưa nhận thức rõ rằng hiệu quả kinh doanh chỉ có được khi doanh nghiệp có nền tảng văn hóa vững chắc là một khó khăn, đồng thời là một thiệt thòi cho doanh nghiệp. Cần thiết phải đặt việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp lên hàng đầu, ít ra cũng phải ngang bằng với hiệu quả kinh doanh, để tạo tiền đề phát triển doanh nghiệp toàn diện, bền vững.

Phần lớn doanh nghiệp chưa thực coi trọng khía cạnh tâm linh của văn hóa doanh nghiệp. Nói đơn giản là lối văn hóa, nếp văn hóa. Mỗi doanh nghiệp đều có một nếp hành xử, có thể coi là một thứ tín tưởng trong hoạt động. Chẳng hạn: niềm tin vào triết lý kinh doanh, vào chiến lược kinh doanh, vào thương hiệu; những quy tắc chuẩn mực ứng xử trong và ngoài doanh nghiệp; sự thành tâm, tự giác, linh hoạt trong quản lý và thực hành công việc... Việc chưa có được một tín tưởng này dẫn đến nhiều hệ quả khiến doanh nghiệp khó có thể phát triển bền vững.

Phần lớn doanh nghiệp chưa thực sự chú trọng một cách có hiệu quả trong việc quảng bá, xây dựng, tôn vinh thương hiệu của doanh nghiệp mình. Tầm quan trọng của thương hiệu, với tư cách một sản phẩm văn hóa, một biểu trưng văn hóa, vẫn bị coi nhẹ.

Phần lớn doanh nghiệp ở ta là vừa và nhỏ, thậm chí siêu nhỏ, nhưng thường quá chú trọng thương hiệu lớn, quá sức mà coi thường thương hiệu nhỏ. Đây là một bất cập gây không ít khó khăn. Đã đến lúc cần có sự rạch ròi trong quan điểm và thực lực. Cần định hướng chú trọng xây dựng, tôn vinh những thương hiệu nhỏ nhưng hấp dẫn trên cơ sở kết hợp, đẩy mạnh việc tôn vinh những thương hiệu lớn mang tính khu vực, toàn cầu. Phải giải quyết được khó khăn về mâu thuẫn giữa thực lực nhỏ và thói quen thích quy mô lớn của không ít doanh nghiệp.

Tình trạng doanh nghiệp tách khỏi cộng đồng, không thân thiện hay đối đầu với cộng đồng là một thực tế. Văn hóa doanh nghiệp ấy, cũng vì thế mà tách khỏi văn hóa cộng đồng. Không ít ví dụ trong thực tiễn về việc doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường, gây tiếng ồn, gây nên sự bức xúc của cộng đồng xung quanh. Đây là một khó khăn thực sự. Nhiệm vụ cần thiết là làm cho doanh nghiệp và văn hóa doanh nghiệp thân thiện và hòa nhập trong cộng đồng và văn hóa cộng đồng.

Tiêu chuẩn xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở mỗi doanh nghiệp còn chung chung, thiếu tính cụ thể và đồng bộ. Người tiêu dùng không chỉ quan tâm tới doanh nghiệp ở chất lượng, mẫu mã, sự quảng bá sản phẩm... mà nhiều khi còn tìm hiểu văn hóa ứng xử của doanh nghiệp trong ngôn ngữ, đồng phục, lôgô, khẩu hiệu hoạt động, nghi lễ chào hỏi, bắt tay... Việc thiếu cụ thể, thiếu những chi tiết đặc trưng cho mỗi một doanh nghiệp thực sự là khó khăn cần chú ý vượt qua để thể hiện được cái riêng của văn hóa doanh nghiệp.

Như vậy, chúng tôi đã nêu ra một vài thuận lợi, khó khăn mang tính chủ quan và khách quan trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở nước ta hiện nay. Đây thực sự là một vấn đề rộng, chưa thống nhất, nhưng lại có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển văn hóa doanh nghiệp Việt Nam hiện tại và tương lai.

_______________

1. Đảng CSVN, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.162.

2. Đảng CSVN, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.84.

             3. Đỗ Minh Cương, Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.183-191.


Nguồn : Tạp chí VHNT số 301, tháng 7-2009

Tác giả : Nguyễn Hương Ly

Ý kiến bạn đọc

Loading.....

(Vui lòng điền đầy đủ thông tin và gõ nội dung bằng tiếng Việt có dấu)

Bài viết liên quan