Văn hóaVăn hóa đương đại

Thứ Sáu, 19/05/2017 | 16:48 GMT+7

CÔNG TÁC ĐÀO TẠO TẠI ĐẠI HỌC VĂN HÓA TP.HCM

Giáo dục đại học là bậc học đào tạo nghề nghiệp chuyên sâu, phục vụ yêu cầu của nền kinh tế tri thức, tạo nguồn lực lao động có tay nghề và trình độ chuyên môn cao phục vụ cho xây dựng và phát triển đất nước. Chất lượng giáo dục không chỉ thể hiện chiến lược về con người của một quốc gia mà còn là vấn đề sống còn của mỗi trường đại học nói riêng, ngành Giáo dục và đào tạo nói chung. Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ VHTTDL. Thời gian qua, Trường đã đào tạo, bồi dưỡng một lực lượng nhân lực lớn trong sự nghiệp của ngành văn hóa đối với cả nước; đặc biệt các địa phương ở phía Nam. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, để phát triển, chất lượng đào tạo của Trường cần được nâng cao hơn nữa.

1. Thực trạng công tác đào tạo hiện nay

Mở ngành, chuyên ngành đào tạo

Tiếp cận vấn đề đào tạo đại học chính quy từ góc độ nhu cầu của xã hội cho thấy, vấn đề này luôn vận động, thay đổi và phát triển theo sự thay đổi của môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu đào tạo đại học chính quy của xã hội, mỗi cơ sở đào tạo phải nghiên cứu để mở các ngành, chuyên ngành mới nhằm mở rộng quy mô đào tạo. Sau 10 năm chuyển từ cao đẳng lên đại học (2006 - 2016), Trường đã mở thêm nhiều ngành mới như văn hóa học, Việt Nam học, hướng dẫn viên du lịch. Sau một thời gian các ngành mới đi vào ổn định, nhà trường đã tiếp tục mở thêm các chuyên ngành mới như: truyền thông văn hóa thuộc ngành văn hóa học; chuyên ngành biên tập và dẫn chương trình, tổ chức sự kiện; mỹ thuật quảng cáo, tổ chức biểu diễn thuộc ngành quản lý văn hóa; bảo quản hiện vật, thuộc ngành bảo tàng; quản trị văn phòng thuộc ngành thư viện. Hiện nay, nhà trường đã và đang thực hiện đề án mở thêm các ngành mới thuộc khối ngành nghệ thuật chuyên nghiệp như: biên đạo múa, huấn luyện múa, thanh nhạc, mỹ thuật ứng dụng… để tiến tới thành lập được khoa nghệ thuật trên cơ sở tách khoa quản lý văn hóa, nghệ thuật thành 2 khoa quản lý văn hóa và nghệ thuật. Đồng thời, nhà trường còn đang tiến hành phát triển chuyên ngành truyền thông văn hóa thành một ngành độc lập… Những nỗ lực đó là minh chứng cho tinh thần quyết tâm của lãnh đạo trường nhằm đưa hoạt động đào tạo của trường vượt qua giai đoạn khó khăn hiện tại, có cơ hội phát triển trong tương lai.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay, những nỗ lực để mở ngành và chuyên ngành mới chưa thật hiệu quả như kỳ vọng và cho đến hết năm 2016 vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra. Trong số các chuyên ngành mới được mở giai đoạn 2006 - 2016, số lượng chuyên ngành hiện tại còn sống và tiếp tục có khả năng để phát triển rất hạn chế (hiện chỉ có chuyên ngành truyền thông văn hóa đã, đang phát triển). Các chuyên ngành còn lại, một số đã dừng tuyển sinh vì không có người học, hoặc không đủ phương tiện vật chất, giảng viên để đào tạo…Nguyên nhân của thực trạng trên có cả yếu tố chủ quan và khách quan. Nhưng về phía mình, Trường đã không dự báo đúng nhu cầu của xã hội; không chuẩn bị đầy đủ, chu đáo các nguồn lực về con người, cơ sở vật chất; chưa dám mạnh dạn thay đổi những quan niệm cũ trong việc đưa ra các quyết sách để phát triển các ngành và chuyên ngành mới. Thực trạng đó chắc chắn đã ảnh hưởng nhiều đến chất lượng đào tạo, cũng như khả năng tồn tại, phát triển của Trường trong giai đoạn mới.

 Tổ chức tuyển sinh

Tổ chức tuyển sinh là một trong những khâu quan trọng nhất góp phần quyết định số lượng, chất lượng đầu vào, từ đó tác động lớn đến chất lượng đào tạo. Vì vậy, hầu hết các cơ sở đào tạo đều tập trung nhiều nguồn lực cho công tác tuyển sinh để đảm bảo tuyển được số lượng có chất lượng đầu vào cao nhất.

Tuyển sinh hệ đại học chính quy, Trường có hai hình thức tuyển sinh sau: đối với các ngành học không cần năng khiếu, Trường tổ chức xét tuyển hồ sơ từ kết quả của kỳ thi quốc gia chung toàn quốc với các tổ hợp môn xét tuyển theo quy định của Bộ GDĐT. Đối với thí sinh đăng ký một số chuyên ngành nghệ thuật, Trường thành lập hội đồng thi năng khiếu riêng.

Với các hình thức tuyển sinh này, về cơ bản, Trường đã chọn được những thí sinh phù hợp với môi trường đào tạo của mình. Xong, vì thương hiệu của Trường chưa mạnh, chất lượng đào tạo của Trường chưa cao và những cơ hội nghề nghiệp sau khi ra trường của sinh viên chưa thật sự đủ sức để thu hút những được những thí sinh chất lượng. Điều này được phản ánh qua điểm chuẩn của Trường thường chỉ bằng hoặc hơn điểm sàn đã quy định từ 1 đến 2 điểm, tùy vào các chuyên ngành.

Bên cạnh đó, công tác tuyển sinh cần quan tâm đến vấn đề truyền thông trong giai đoạn hiện nay. Trong những năm qua, Trường cũng đã thực hiện một số phương án truyền thông tuyển sinh: tham gia ngày hội tư vấn tuyển sinh, sử dụng website, kênh báo chí… Tuy nhiên, vấn đề này chưa được đầu tư, những phương án truyền thông tuyển sinh chưa đủ mạnh, đủ rộng để gây được sự chú ý đến các nhóm đối tượng của người cần tuyển; đặc biệt đến khu vực phía Nam và Tây Nguyên. Trong bối cảnh cạnh tranh người học trong lĩnh vực giáo dục ngày càng gay gắt, nếu truyền thông yếu sẽ dẫn đến số lượng thí sinh đăng ký vào Trường giảm, một số chuyên ngành không thể tuyển đủ chỉ tiêu hoặc không có người học.

 Chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo được xây dựng nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo, phản ánh nội dung đào tạo. Hiện nay, Trường đã xây dựng 13 chương trình đào tạo đại học chính quy theo hình thức đào tạo tín chỉ. Một số chương trình đào tạo đang sửa đổi, bổ sung cho phù hợp hơn với yêu cầu thị trường lao động và hình thức đào tạo tín chỉ. Bên cạnh đó, để đảm bảo chất lượng, tất cả các chương trình đào tạo đều được tổ chức phản biện độc lập và hội đồng khoa học đánh giá.

Tuy nhiên, điểm hạn chế về một số chương trình đào tạo khi xác định mục tiêu chưa rõ ràng, làm cho người học khó nhận diện được kết quả đạt được trong quá trình học tập, trong khi người dạy cũng khó tổ chức dạy theo đúng chuẩn. Điều này thể hiện qua cuộc khảo sát đánh giá thực hiện năm 2015. Qua khảo sát, với nhận định “mục tiêu của chương trình đào tạo rõ ràng, cụ thể về kiến thức kỹ năng đạt được” thì chỉ có 46,6 % sinh viên tham gia khảo sát đồng ý với nhận định đó, trong khi có đến 50,0% tương đối đồng ý và 3,4% không đồng ý. Tiếp đến, với nhận định “mục tiêu của chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu nghề nghiệp thực tế xã hội” cũng chỉ có 42,4 % sinh viên đồng ý, trong khi có đến 48,9% tương đối đồng ý, 8,7% không đồng ý.

Ngoài ra, các chương trình đào tạo tuy có điều chỉnh, đổi mới cho phù hợp, nhưng vẫn mang tính chủ quan một chiều dựa trên kinh nghiệm của chính các giảng viên trong khoa, bộ môn chứ chưa có sự tham gia tư vấn của nhà tuyển dụng trong việc xây dựng và hiệu chỉnh chương trình đào tạo. Khi thực thi chương trình, các khoa, bộ môn mới chỉ quan tâm đến mục tiêu đề ra trong chương trình, thực hiện theo quy định, hoàn thành chương trình theo kế hoạch, nội dung chứ chưa tiếp cận được năng lực người học theo yêu cầu của nghề nghiệp. Nội dung chương trình đào tạo còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, trong khi đó hoạt động thực tiễn các ngành trong trường đều đòi hỏi nhiều hơn đối với kỹ năng thực hành. Tất cả những hạn chế về chương trình đào tạo hiện nay của trường đã có những tác động nhất định đến chất lượng đào tạo đại học chính quy.

 Nguồn giáo trình giảng dạy

Một chương trình đào tạo đảm bảo chất lượng cần có hệ thống giáo trình đầy đủ. Đó chính là tài liệu chuyên môn căn bản nhất để người học và người dạy có thể tiếp cận nhằm phục vụ quá trình đào tạo. Việc biên soạn, hoàn thiện giáo trình giảng dạy càng cấp thiết khi Bộ GDĐT yêu cầu tất cả các cơ sở đào tạo cao đẳng, đại học phải hoàn thiện giáo trình đào tạo trong năm 2015.

Đối với Trường, trong nhiều năm qua, lãnh đạo đã tích cực chỉ đạo việc rà soát, đánh giá thực trạng giáo trình đào tạo của nhà trường nhằm lên phương án để đảm bảo đến năm 2017, Trường hoàn thiện giáo trình theo yêu cầu của Bộ VHTTDL. Vì vậy, từ chỗ thiếu rất nhiều giáo trình để phục vụ công tác đào tạo bậc đại học chính quy, thì đến cuối năm 2016, Trường đã bổ sung được khá nhiều giáo trình, đặc biệt đối với các học phần thuộc khối kiến thức cơ sở ngành và chuyên ngành. Các giáo trình này một phần do Trường biên soạn, một phần đặt hàng các chuyên gia đầu ngành biên soạn. Tuy nhiên, kết quả khảo sát sơ bộ của chúng tôi cũng cho thấy, đối với các chuyên ngành mang tính thực hành nghề nghiệp cao như: đạo diễn sự kiện, biên tập và dẫn chương trình, mỹ thuật quảng cáo, quản lý hoạt động âm nhạc, sân khấu; quản lý hoạt động văn hóa xã hội, tổ chức hoạt động văn hóa nghệ thuật, truyền thông văn hóa… thì hiện nay, số lượng giáo trình thuộc khối kiến thức cơ sở ngành và chuyên ngành còn thiếu rất nhiều. Nguyên nhân của thực trạng này là có quá ít số lượng giảng viên đủ chuẩn về học vị để có thể tham gia viết giáo trình, trong khi kinh phí dành cho viết giáo trình khá thấp nên khó có thể mời người viết giáo trình đạt chuẩn.

 Tổ chức và quản lý đào tạo

Từ năm 2010, Trường viết giáo trình bắt đầu triển khai tổ chức và quản lý đào tạo đại học chính quy theo hệ thống tín chỉ. Để việc triển khai đào tạo theo hệ tín chỉ có hiệu quả, Trường đã tổ chức một số đợt tập huấn cho sinh viên và giảng viên, trong đó có lực lượng cố vấn học tập về những kiến thức liên quan đến hình thức đào tạo tín chỉ. Bên cạnh đó, lãnh đạo Trường còn thường xuyên chỉ đạo trực tiếp cho các bộ phận có liên quan tổ chức và quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Chính những nỗ lực đó, mà hiện nay, công tác tổ chức, quản lý đào tạo đại học chính quy theo hệ tín chỉ đã đạt được một số thành công cơ bản: sinh viên đã bắt đầu thích nghi được với những đặc thù riêng có của hình thức học tín chỉ, họ phải tự học, tự nghiên cứu nhiều hơn; giảng viên cũng bắt đầu nhận thức rõ hơn về hình thức đào tạo tín chỉ nên đã điều chỉnh phương pháp giảng dạy phù hợp hơn.

Tuy nhiên, công tác quản lý và tổ chức đào tạo theo hệ tín chỉ của Trường hiện vẫn còn một số bất cập, dù là hình thức học tín chỉ, nhưng việc linh hoạt chuyển lớp, đăng ký môn học, quyền chọn lựa khối lượng kiến thức cần học trong một học kỳ sao cho phù hợp với khả năng kinh tế, quỹ thời gian của sinh viên còn rất hạn chế. Ngoài ra, do thiếu lực lượng giảng viên cho mỗi học phần nên sinh viên cũng có rất ít sự lựa chọn giảng viên mà mình muốn theo học đúng như quy định của hình thức đào tạo tín chỉ. Hơn nữa, nhiều giảng viên vẫn còn thói quen tổ chức giảng dạy theo hình thức niên chế, chưa tạo dựng được những cơ chế quản lý lớp học, phương thức đánh giá sinh viên phù hợp với những đặc thù của hình thức đào tạo tín chỉ.

Bên cạnh đó, công tác tự đánh giá, đảm bảo chất lượng đào tạo của Trường tuy đã vào nề nếp nhưng chưa có chiều sâu do thiếu hụt chuyên gia được đào tạo bài bản về kiểm định chất lượng giáo dục. Vì vậy, Trường chưa có được kết quả đánh giá chính xác những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức để từ đó có định hướng chiến lược nâng cao chất lượng đào tạo và đưa ra những giải pháp kịp thời. Tất cả những thực trạng trên đã làm giảm đi rất nhiều chất lượng đào tạo đại học chính quy theo hình thức tín chỉ hiện nay của Trường.

2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo chính quy

Trong bối cảnh hiện nay, nền kinh tế thị trường có những quy luật riêng và đã có những điều tiết đầu vào cũng như đầu ra đối với các ngành đào tạo nói chung và văn hóa, nghệ thuật nói riêng. Khối ngành đào tạo về văn hóa, nghệ thuật không phải là ngành hot, thu nhập thấp, yêu cầu chất lượng đào tạo cao, nên số người dự tuyển rất ít hoặc không có. Thậm chí sinh viên hiện đang theo học còn có biểu hiện tâm lý tiêu cực do khó tìm được việc làm phù hợp với     chuyên môn, thu nhập chưa thực sự hợp lý.

Chính vì vậy, muốn thu hút người học, tạo dựng thương hiệu, Trường cần đề ra các mục tiêu, giải pháp cụ thể về: nguồn lực giảng viên, hệ thống nguồn tài liệu, hệ thống cơ sở vật chất, hoạt động nghiên cứu khoa học và đặc biệt là nâng cao chất lượng hoạt động đào tạo. Cụ thể, Trường cần thực hiện các công việc sau:

Thứ nhất, thường xuyên thực hiện khảo sát đánh giá nhu cầu người học tại các trường phổ thông và nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực ở địa phương để có cái nhìn tổng quan và chính xác về sự thay đổi của xã hội. Từ đó mới có thể xây dựng và tuyển sinh những ngành nghề mới phù hợp nhu cầu xã hội.

Thứ hai, khắc phục những hạn chế của công tác quản lý tư vấn hướng nghiệp và tuyển sinh đào tạo, đó là: thiếu một hướng đi tổng thể và gần như chưa có các hoạt động tổ chức tư vấn hướng nghiệp theo nhu cầu xã hội, chưa có kế hoạch tổng thể của cả năm, kế hoạch chi tiết ứng với từng giai đoạn, từng đối tượng... để có cách thức tổ chức phù hợp và hiệu quả trong công tác tuyển sinh. Trường cần thành lập hội đồng tư vấn tuyển sinh về các ngành đào tạo. Bên cạnh đó, mời hiệu trưởng các cơ sở giáo dục có nguồn dự tuyển, giám đốc các trung tâm giáo dục thường xuyên, giảng viên có uy tín trong lĩnh vực đào tạo các ngành của trường cùng phối hợp thực hiện. Trong hội đồng này có thể hình thành các tiểu ban chuyên môn phụ thuộc vào từng nhóm đối tượng, nguồn tuyển sinh, hoặc vùng tuyển sinh…

Cách thông thường mà các cơ sở đào tạo thu hút người học là sử dụng phương tiện thông tin đại chúng. Hiện nay, phần lớn các cơ sở đào tạo đã xây dựng những website riêng để chủ động quảng bá hình ảnh thông qua mạng internet. Ngoài ra, Trường có thể tổ chức hoặc tham gia các sự kiện đặc biệt nhằm quảng bá và thu hút sự chú ý của công chúng tại các địa điểm, trung tâm, diễn đàn, hội chợ việc làm... cũng có thể phối hợp với các trường phổ thông và các nhà tuyển dụng để thu hút người học.

Cách thức thu hút người học được lựa chọn nhiều và có hiệu quả hơn đó là sử dụng cán bộ tư vấn hướng nghiệp cho các đối tượng là học sinh năm cuối ở các cơ sở giáo dục phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp. Trong các buổi tư vấn, các cơ sở đào tạo kèm theo các chương trình nghệ thuật do sinh viên đang được đào tạo tại trường thể hiện, vừa để tư vấn tuyển sinh vừa để cho học sinh hiểu được kết quả học tập trong một thời gian của những sinh viên thực hiện chương trình biểu diễn. Trước khi tuyển sinh cần tư vấn cho người học cả các kết quả của khóa học, các yêu cầu về học tập và đánh giá, các quá trình tiến hành khóa học…

Thứ ba, chương trình đào tạo là yếu tố có tính quyết định việc thu hút người học và đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội, tức là nhà trường phải đào tạo cái mà xã hội cần, không phải đào tạo cái nhà trường có. Bởi vậy, quản lý và phát triển chương trình đào tạo là một trong những biện pháp thiết yếu nhằm đào tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, mỗi năm Trường cần đánh giá lại những chương trình đào tạo hiện hành so với những gì mà nhu cầu xã hội cần. Sàng lọc những môn học không còn phù hợp với nhu cầu xã hội, phát triển và bổ sung các môn học mới theo yêu cầu của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp sử dụng nguồn nhân lực sau đào tạo. Bên cạnh việc cấu trúc lại chương trình đào tạo, cần áp dụng đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo chuẩn đầu ra nhằm thỏa mãn được nhu cầu thị trường lao động nói chung và của ngành văn hóa, nghệ thuật nói riêng.

Thứ tư, đối với một cơ sở đào tạo, việc thiếu sách, giáo trình, tài liệu cũng là một sự không đồng bộ với đòi hỏi chất lượng đào tạo cao. Do vậy, cần rà soát toàn bộ hệ thống giáo trình và tài liệu phục vụ giảng dạy, làm cơ sở để xây dựng kế hoạch bổ sung tài liệu mới, tiên tiến, nhằm hỗ trợ tốt cho công tác đào tạo và sưu tầm nghiên cứu khoa học của giảng viên và sinh viên. Cần có kế hoạch đầu tư xây dựng giáo trình, tài liệu tham khảo cho những ngành học mới. Tăng cường đầu tư về mọi mặt cho việc nâng cao chất lượng các loại giáo trình, sách chuyên khảo, sách tham khảo… Đặc biệt, nhà trường cần tăng kinh phí cho công tác biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo tạo động lực cho giảng viên và các nhà nghiên cứu.

Thứ năm, công tác kiểm định theo điều tra đánh giá của thị trường bằng cách thu thập ý kiến khách hàng về ngành nghề đào tạo, chất lượng… qua phiếu thăm dò và tổ chức hội nghị khách hàng là việc làm rất cần thiết. Trường nên xây dựng mô hình tổ chức và quản lý chất lượng kiểm tra định kỳ và công khai chất lượng đào tạo theo quy trình: chất lượng tuyển sinh (đầu vào), tổ chức quá trình đào tạo, chất lượng về nguồn nhân lực đã qua đào tạo (đầu ra), công khai chất lượng đào tạo.

Tóm lại, việc nâng cao chất lượng đào tạo đại học chính quy tại Trường chắc chắn sẽ còn nhiều khó khăn. Giải quyết bài toán này không phải là vấn đề đơn giản, lại càng không phải là chuyện một sớm một chiều. Nó có quá trình, quy trình và cần có chiến lược phát triển đúng đắn. Do vậy, nhà trường cần phải có một sự đánh giá thật nghiêm túc, một cái nhìn toàn diện, một sự điều chỉnh đồng bộ ở tất cả các khâu trong quá trình tổ chức và giảng dạy sẽ góp phần thúc đẩy quá trình chuyển động này nhanh hơn, mạnh hơn trong thực tế.


Nguồn : Tạp chí VHNT số 395, tháng 5-2017

Tác giả : LÊ THỊ THANH THỦY

Ý kiến bạn đọc

Loading.....

(Vui lòng điền đầy đủ thông tin và gõ nội dung bằng tiếng Việt có dấu)

Bài viết liên quan