Văn hóaVăn hóa gia đình

Thứ Sáu, 14/04/2017 | 14:58 GMT+7

BIẾN ĐỔI NGHI LỄ TRONG GIA ĐÌNH NGƯỜI TÀY Ở CAO BẰNG

Các nghi lễ trong gia đình của người Tày ở Cao Bằng đã có những biến đổi nhất định, thể hiện ở một số khía cạnh khác nhau, cả về nội dung lẫn hình thức. Tuy nhiên, những bản xa trung tâm huyện lỵ, ít chịu ảnh hưởng của lối sống đô thị hơn thì sự biến đổi có tốc độ chậm hơn các bản gần kề huyện. Những biến đổi về nghi lễ trong gia đình của người Tày ở Cao Bằng diễn ra bởi nhiều nguyên nhân, sự cộng cư lâu đời đã tạo nên sự giao lưu, ảnh hưởng văn hóa giữa các tộc người, sự vay mượn các yếu tố văn hóa của nhau để làm phong phú thêm bản sắc văn hóa tộc người mình. Nói về việc giao thoa, tiếp biến văn hóa thì người Tày ở Cao Bằng cũng chịu ảnh hưởng nhiều từ văn hóa của người Kinh.

1. Những biến đổi

Biến đổi nghi lễ thờ cúng tổ tiên, các vị thần

Những năm gần đây, sự phát triển kinh tế, xã hội đã tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần của người Tày; tục thờ cúng tổ tiên trong mỗi gia đình người Tày đã trở thành phổ biến, thường xuyên hơn. Tết đến, mọi người đều làm lễ cúng ông bà tổ tiên, đi tảo mộ để mời tổ tiên về ăn tết cùng với con cháu, trong đêm giao thừa, nhà nào cũng làm lễ dâng cúng những phẩm vật ngon nhất để tưởng nhớ công ơn tổ tiên.

Không gian thờ cúng tổ tiên cũng có nhiều biến đổi, ban thờ không còn đặt ở gian truyền thống nữa mà thường đặt tại gian giữa, như trong ngôi nhà của người Kinh, trên treo ảnh thờ của cả ông bà, bố mẹ, tức là đã thờ hai thế hệ.

Từ xa xưa, đồ lễ để cúng tổ tiên của người Tày đều là sản phẩm do người dân tự nuôi, trồng lấy. Ngày nay, những lễ vật như xôi, gà, lợn... vẫn được duy trì ở những gia đình cư trú tại các làng bản xa trung tâm. Nhưng ở vùng thị trấn, một số gia đình không còn chế biến những loại thực phẩm truyền thống kể trên nữa mà họ mua giò, chả, bánh chưng, gà về cúng giống như người Kinh.

Khi đời sống kinh tế đã khá hơn, việc thờ cúng tổ tiên trong các ngày lễ tết, lễ cưới, mừng nhà mới... càng được chú ý hơn, tổ chức lớn hơn. Bàn thờ tổ tiên được bày biện đẹp hơn, nhiều đồ thờ trang trọng hơn, thay cho sự đơn giản trước kia. Ngoài bàn thờ tổ tiên to, cao, đẹp, họ còn nhiều bàn thờ khác trong nhà hoặc ở trước nhà thờ thần đất, thổ công, thần núi...

Tuy có nhiều biến đổi trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Tày, nhưng có một điều hầu như không thay đổi là lòng thành kính, ngưỡng vọng tổ tiên. Họ luôn coi tổ tiên là đấng linh thiêng, sẵn sàng giúp đỡ, phù hộ con cháu. Vì vậy, có thể nói tổ tiên vẫn luôn là điểm tựa tinh thần vững chắc cho người Tày trong cuộc sống.

Biến đổi các nghi lễ liên quan đến sản xuất

Do sự thay đổi về phương thức sản xuất, sự ảnh hưởng của yếu tố văn hóa bên ngoài nên hoạt động tín ngưỡng đã có những thay đổi. Trước đây, các nghi lễ liên quan đến nông nghiệp, sản xuất hầu như các gia đình đều tổ chức. Nay người dân không chỉ sản xuất nông nghiệp nữa nên lễ này mai một đi, tỷ lệ gia đình tổ chức, hình thức tổ chức cũng đã thay đổi. Những người dân còn tổ chức nghi lễ này cũng chỉ để tưởng nhớ quá khứ, nhớ về một tín ngưỡng vẫn còn tồn tại trong tâm thức hoặc để nhắc nhở con cháu nhớ đến một tín ngưỡng đẹp của cha ông.

Biến đổi các nghi lễ theo chu kỳ thời gian

Các lễ tết quan trọng nhất trong năm của người Tày ở Cao Bằng là: tết Nguyên đán, rằm tháng giêng, thanh minh (tảo mộ), rằm tháng 7. Các lễ tết này được tổ chức ở gia đình theo chu kỳ năm của người Tày, có xu hướng phục hồi gần như cũ, với những tỷ lệ khác biệt, tùy dân tộc hay vùng cư trú.

Người Tày cũng coi rằm tháng 7 là tết báo hiếu, coi trọng nó chỉ sau tết Nguyên đán. Vào ngày tết, con gái, con rể, cháu ngoại thường mang biếu bố mẹ, ông bà đôi vịt, bánh dậm, bánh gai... dự một bữa cơm cùng bố mẹ, ông bà.

Hiện nay, ngày lễ thanh minh cũng được quan tâm đặc biệt do có một bộ phận người dân cuộc sống khá giả, một số gia đình có người thoát ly, có vị trí nhất định trong bộ máy nhà nước... Việc tổ chức tết thanh minh có tỷ lệ lớn mang thêm ý nghĩa mới là mong muốn ông bà tổ tiên phù hộ cho con cháu may mắn, phát đạt trong làm ăn, con đường học hành, thăng quan tiến chức hanh thông. Các ngày lễ tết khác cũng được tổ chức với tỷ lệ cao tương ứng.

Ngày cúng giỗ của người Tày nhìn chung khá đơn giản, quy mô tổ chức ít linh đình, thường chỉ giỗ ông bà, bố mẹ, còn ở đời cụ gần như thôi không còn giỗ nữa. Những gia đình, dòng họ tổ chức giỗ tổ, có nhà thờ tổ, do có nguồn gốc người Việt.

Biến đổi trong nghi lễ sinh đẻ, nuôi dạy con cái

Với người Tày, trước đây, mỗi đứa trẻ ra đời, nhất là con trai, là một sự kiện trọng đại không chỉ của một gia đình mà còn là niềm vui của cả dòng họ, đáp ứng nhu cầu về việc nối dõi tông đường, tăng thêm số người trong họ tộc. Quan niệm đông con thì nhiều phúc, nhiều lộc, sinh nhiều con thì sau này già yếu sẽ được các con phụng dưỡng chu đáo hay sinh nhiều con để đáp ứng nhu cầu về sức lao động vẫn còn tồn tại trong tư tưởng của một bộ phận người Tày. Tuy nhiên, quan niệm đó không còn quá sâu sắc, nặng nề bởi nhận thức của người dân đã thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội hiện nay. Những năm gần đây, không có nhiều gia đình Tày sinh con thứ ba; một mặt do công tác giáo dục, tuyên truyền kế hoạch hóa gia đình đến từng hộ dân, mặt khác do kinh tế, xã hội biến đổi nhanh chóng đã tác động đến ý thức của người dân về việc chăm sóc, nuôi dạy con, đặc biệt là ý thức đầu tư giáo dục cho con cái. Ngoài ra, đời sống được nâng cao, nhu cầu hưởng thụ, học tập, tham gia công tác xã hội hay nhu cầu phát triển của mỗi cá nhân, kế hoạch tương lai của các gia đình... cũng là nguyên nhân giảm tỷ lệ sinh ở các cộng đồng Tày.

Cách chăm sóc thai nhi chủ yếu vẫn dựa vào kinh nghiệm dân gian của những người già truyền lại cho con cháu, đặc biệt là mẹ truyền cho con gái, con dâu. Theo đó, thường xuyên sử dụng các loại thuốc nam do thày lang người Tày chế biến cả trong thời kỳ mang thai, sau khi sinh là việc quan trọng.

Trước đây, khi hệ thống cơ sở y tế của Nhà nước chưa được đầu tư đồng bộ đến tận xã như bây giờ, hoạt động tuyên truyền về an toàn vệ sinh y tế, sinh đẻ chưa được quan tâm đúng mức nên việc người dân vẫn theo tập quán sinh đẻ tại nhà. Ngày nay, với sự phát triển của xã hội, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy y tế tiến một bước dài trong việc chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh cho người dân. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền sức khỏe sinh sản được thực hiện liên tục, bằng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau thông qua nhiều phương tiện truyền thông đã làm thay đổi nhận thức của người dân địa phương đối với vấn đề sử dụng dịch vụ y tế, khám bệnh, sinh đẻ tại cơ sở y tế của Nhà nước. Tỷ lệ phụ nữ được tiếp cận với dịch vụ y tế rất cao vì tất cả các thôn, bản, xã đều đã có nhân viên y tế, bác sĩ. Tỷ lệ sinh con thứ ba thấp.

Các nghi lễ liên quan đến chăm sóc trẻ sơ sinh, sản phụ không có nhiều biến đổi. Những nghi lễ cắm taleo, ra bếp, cúng mụ, đặt tên, cúng ma làm hại... đến nay vẫn được thực hiện tuần tự, đầy đủ. Bên cạnh đó, việc kiêng kỵ lên nhà chính, nơi có bàn thờ ma nhà khi chưa làm lễ ra bếp vẫn được duy trì; bởi vậy sau khi từ bệnh viện về, sản phụ vẫn nghỉ trong gian bếp xông nóng bằng lửa, đến khi làm lễ ra bếp mới thôi không ở gian đó nữa. Lý do các tập quán, nghi lễ này ít biến đổi là bởi vì tri thức địa phương trong việc chăm sóc sản phụ, trẻ sơ sinh đến nay vẫn còn hữu dụng, được chứng minh trong đời sống. Hơn nữa, kiêng kỵ về sinh đẻ vẫn được người dân coi trọng.

Những kiêng kỵ dành cho phụ nữ mang thai như kiêng các thức ăn có nhớt như ốc, ếch, lươn vì sợ dễ bị sảy thai, kiêng ăn đồ cay để tránh thai nhi bị nóng... nay ít thấy thực hiện. Thai phụ thường ăn nhiều loại thực phẩm khác nhau, kể cả những thứ trước đây kiêng. Tuy nhiên, sau khi sinh, sản phụ vẫn kiêng ăn mắm tôm, đồ cay, chua để tránh gây bệnh ỉa chảy cho trẻ sơ sinh bú mẹ.

Mọi biến đổi chủ yếu diễn ra ở tập quán sinh đẻ, có sự thay đổi lớn về quan niệm sinh con, một số cách chăm sóc trẻ sơ sinh như cắt rốn, chôn nhau thai... Tuy nhiên, về cơ bản, các nghi lễ liên quan đến sinh đẻ hầu như vẫn được thực hiện như trước đây.

Biến đổi trong nghi lễ tang ma

Trước đây, các nghi thức, nghi lễ tang ma thường diễn ra trong vài ngày. Người dân tuân thủ chặt chẽ trình tự của các nghi lễ, không bỏ sót một chi tiết nào. Có những nghi lễ diễn ra hàng đêm ròng như lễ cúng lợn, dâng rượu, thịt lợn, đọc các bài cúng khấn linh hồn người chết trong hai, ba tiếng, sau đó các dâu, rể trong họ thực thi tục dâu, rể.

Đám tang của những gia đình quý tộc thường được tổ chức với quy mô lớn, kéo dài hàng chục ngày để phô trương thanh thế, sự giàu có, ẩn sau đó là chờ đợi sự phúng viếng của người dân. Còn đối với người dân khi cha mẹ qua đời, dù khó khăn đến đâu cũng phải vay mượn để lo liệu tang ma chu đáo, cố gắng mua những con lợn béo, cỗ áo quan đẹp để cha mẹ khỏi thiếu thốn khi về với của tổ tiên.

Tuy nhiên, kể từ khi thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về nếp sống mới, thời gian tổ chức đám tang đã được rút ngắn, chỉ còn giới hạn trong 24 tiếng. Một mặt để đảm bảo vệ sinh môi trường, sức khỏe cho người dân; mặt khác, trong khoảng thời gian có hạn, không thể thực hiện tất cả các nghi lễ, nghi thức cúng tế nên thày mo phải cắt ngắn các bài slống hoặc phải gộp một số nghi lễ lại.

Người Tày vẫn dùng phổ biến kiểu quan tài bằng thân cây (dổi, nghiến...). Ngày nay, với pháp lệnh bảo vệ môi trường rừng, người dân không được khai thác gỗ tự do như trước nên cũng khó có thể duy trì sử dụng loại quan tài này. Bởi vậy, dù muốn hay không, đồng bào cũng phải sử dụng loại quan tài phổ biến bằng ván đóng như người Kinh.

Trước đây, người dân kiêng chuẩn bị gỗ làm quan tài khi cha mẹ chưa qua đời. Họ cho rằng làm như vậy là muốn cha mẹ mất sớm, bất hiếu, trái đạo lý làm người. Quan niệm đó dần thay đổi. Bây giờ, có những gia đình đã chuẩn bị trước gỗ làm quan tài, cất dưới gầm nhà sàn. Những phiến gỗ đó do con cháu kiếm được trong rừng hoặc mua lúc có điều kiện, phòng khi bố mẹ qua đời khỏi phải vất vả chạy ngược xuôi lo chuẩn bị áo quan. Bản thân những người già cũng cảm thấy yên tâm sống phần đời còn lại khi con cháu đã quan tâm chăm sóc, chuẩn bị gỗ tốt để làm áo quan cho mình như mong muốn.

Việc chôn cất cũng không còn tuân thủ đầy đủ các thủ tục, luật tục. Trước đây, các dòng họ quý tộc hay chức dịch được chôn ở khu vực riêng trong bãi tha ma, còn những dòng họ bình dân có mộ phần ở khu khác, không được chôn gần nhau. Thời gian chịu tang, việc mặc đồ tang cũng không được tuân thủ chặt chẽ như  trước. Ngay cả cách thức đến phúng viếng, đồ phúng viếng cũng có phần biến đổi. Đồ phúng viếng trước đây như lợn, gà, gạo, rượu... được thay thế bằng tiền. Các nghi thức phúng viếng cũng được đơn giản hóa, hiện đại hơn.

Tuy là một trong những thành tố văn hóa ít bị biến đổi nhất của tộc người do mục đích, giá trị tín ngưỡng của nó, nhưng các bài mo ma của người Tày không nằm ngoài quỹ đạo của quá trình tiếp biến văn hóa, của sự thay đổi về niềm tin, lối sống. Hiện nay, đám ma của người Tày có xu hướng rút ngắn về thời gian tổ chức; các nghi lễ tang ma cũng giản lược dần nên trình tự các bài mo theo phong tục, tín ngưỡng truyền thống cũng thay đổi đáng kể. Vì đám ma chỉ diễn ra trong ít ngày nên các thày mo gộp các bài mo lại để trình bày trong một đêm. Hơn nữa, với sự giao thoa, tiếp biến văn hóa ngày càng mạnh như ngày nay thì nội dung, lời mo cũng có phần pha trộn.

Tang ma xưa là việc của một nhà, chỉ có sự trợ giúp của bà con trong họ. Ngày nay, tang ma không phải là chuyện riêng của một gia đình hay dòng họ nữa, mà là việc của cả cộng đồng, trong đó vai trò của chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể rất quan trọng. Khi trong làng có người qua đời, các tổ chức trên chủ động phối hợp với tang gia họp bàn để phân công giúp đỡ công việc. Các tổ chức đoàn thể trực tiếp tham gia hầu hết mọi việc như đào huyệt, dựng nhà mồ, mổ lợn, gà làm đồ cúng... Nhờ vậy, gia chủ được đỡ đần phần nào, có thời gian tập trung vào những việc cần sự hiện diện của người nhà hơn.

2. Nguyên nhân biến đổi

Các hoạt động giao tiếp với tổ tiên, thần linh trong gia đình đang được chuyển dần sang cho người phụ nữ. Gần như mọi hoạt động cúng lễ xưa nay là công việc của người đàn ông, phụ nữ chỉ là người chuẩn bị các lễ vật dâng cúng, thắp hương cầu cúng tổ tiên. Quan niệm về vai trò riêng biệt của nam giới trong lĩnh vực này có nhiều chuyển biến. Hiện nay, phụ nữ tham gia vào hầu hết các hoạt động nghi lễ trong gia đình, tỷ lệ gần như ngang bằng với người đàn ông. Thực trạng trên bị chi phối bởi quá trình bình đẳng giới, trình độ nhận thức của các thành viên trong gia đình, do sự đóng góp ngang bằng về kinh tế, quan trọng hơn là sự chi phối của công việc. Mọi công việc gia đình đều chuyển dần sang người vợ, trong đó có cả các nghi lễ trong gia đình của người Tày.

Như vậy, trong các hoạt động tôn giáo tín ngưỡng mang tính chất gia đình, cá nhân, người phụ nữ lại đang là người giữ vai trò quan trọng. Ý nghĩa của các hình thức nghi lễ cũng có những biến đổi nhất định. Xét từ góc độ nghiên cứu, sự biến đổi các nghi lễ trong phạm vi gia đình, cá nhân của các gia đình người Tày hiện nay đang theo hướng tích cực. Nó không còn quá rườm rà, nặng nề, khép kín nhưng cũng chưa đến mức mất đi những yếu tố cơ bản để không còn có thể nhận ra. Quan niệm truyền thống về các hoạt động tâm linh, lực đẩy của sự phát triển kinh tế với những biến đổi khó lường trước đây đã là những nguyên nhân giữ cho sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng nơi đây tồn tại được ở thế cân bằng.

Văn hóa gia đình người Tày chịu ảnh hưởng sâu sắc của những biến đổi kinh tế xã hội đang diễn ra với tốc độ nhanh chưa từng có, nền kinh tế thị trường, quá trình hội nhập kinh tế, giao lưu văn hóa quốc tế, phương thức sản xuất, sự phân phối của cải vật chất, chế độ sở hữu nên các giá trị, chuẩn mực xã hội. Trên cơ sở đó, đồng bào các dân tộc có điều kiện phát triển, không ngừng nâng cao đời sống cả về vật chất lẫn tinh thần. Kinh tế thị trường, quá trình hội nhập đã mang lại cho người Tày nơi đây những bước tiến về đời sống, nhận thức, song cũng gây tác động tiêu cực không nhỏ đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân. Hội nhập kinh tế cùng với sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng đã, đang tác động không nhỏ tới đời sống văn hóa gia đình của người Tày nơi đây, người dân đã có điều kiện tiếp nhận nhiều hơn với các dân tộc trên thế giới, trong nước. Tính chất xen cư làm cho văn hóa truyền thống của người Tày bị thay đổi, ít có cơ sở giám sát những trách nhiệm nghĩa vụ, giá trị đạo đức truyền thống. Bối cảnh giao lưu, hội nhập kinh tế quốc tế tác động tới mỗi gia đình của người Tày ở Cao Bằng, cuốn họ vào vòng xoáy kinh tế. Một số giá trị của các nghi lễ trong gia đình truyền thống bị mai một, biến đổi, hình thành những giá trị mới. Quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong gia đình, sự truyền thụ các giá trị văn hóa, tri thức văn hóa cũng thay đổi. Quy mô gia đình hạt nhân ngày càng chiếm ưu thế, suy giảm số lượng gia đình lớn, gia đình ba thế hệ trở lên. Các mối quan hệ trong gia đình lỏng lẻo theo hướng tự chủ cá nhân. Mô hình hôn nhân, gia đình theo hướng nhấn mạnh nhiều hơn đến vai trò, trách nhiệm cá nhân, dân chủ, bình đẳng giữa các thành viên thuộc các độ tuổi, giới tính khác nhau trong gia đình. Việc cúng lễ ở các đình, chùa, mê tín dị đoan đã ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội của người Tày ở Cao Bằng. Việc nghiên cứu sự biến đổi các nghi lễ trong gia đình của người Tày ở Cao Bằng sẽ góp phần nhận diện những mặt tích cực cũng như hạn chế, những yếu tố tác động làm biến đổi văn hóa gia đình từ đó tìm ra nguyên nhân, đề ra giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị trong văn hóa gia đình truyền thống của người Tày nơi đây. Kinh tế thị trường với những mặt tích cực, hạn chế đã làm thay đổi nhiều thước đo giá trị đối với các sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng của những người dân nơi đây, nhưng nhìn chung giá trị văn hóa phi vật thể này vẫn giữ được tính cân bằng ổn định trên cơ sở nền tảng xã hội hiện nay.


Nguồn : Tạp chí VHNT số 394, tháng 4-2017

Tác giả : NÔNG ANH NGA

Ý kiến bạn đọc

Loading.....

(Vui lòng điền đầy đủ thông tin và gõ nội dung bằng tiếng Việt có dấu)

Bài viết liên quan