Văn hóaVăn hóa gia đình

Thứ Sáu, 28/07/2017 | 11:36 GMT+7

SỰ KẾ THỪA NGHỀ NGHIỆP GIỮA CÁC THẾ HỆ TRONG GIA ĐÌNH

Khái niệm vốn xã hội lần được đầu tiên được nhắc tới là vào năm 1916 do Lyda Judson Hanifan đưa ra. Từ đó đến nay, đã có nhiều nhà khoa học đưa ra các quan điểm bàn luận về khái niệm này. Có những quan điểm giống và khác nhau khi phân tích về vốn xã hội của các các nhà khoa học. Khi tìm hiểu các quan điểm của những nhà nghiên cứu về vốn xã hội, chúng tôi nhận thấy vai trò của vốn xã hội về sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình.

1. Quan điểm về vốn xã hội

Bằng việc phân tích khái niệm vốn xã hội qua nhiều quan điểm của các nhà khoa học, chúng tôi tìm ra điểm chung và khác biệt của từng tác giả khi phân tích khái niệm này.

Bourdieu nêu định nghĩa vốn xã hội là tập hợp các nguồn lực hiện hữu hoặc tiềm tàng gắn với việc có một mạng lưới bền vững những quan hệ quen biết hoặc thừa nhận lẫn nhau ít nhiều được thể chế hóa. Pierre Bourdieu nhấn mạnh tính chất có thể hòa quện của các hình thức vốn khác nhau. Rốt cuộc mọi hình thức vốn đều quy về vốn kinh tế. Ông phân biệt vốn kinh tế, vốn xã hội, vốn văn hóa với tư cách là những hình thức biểu hiện và chuyển hóa của vốn xã hội. Ông không phân tích nhiều về vốn kinh tế, nhưng cũng có ý phê phán kinh tế học khi xem vốn kinh tế là cái có thể đổi thành tiền hoặc thể chế hóa thành quyền sở hữu. Theo Bourdieu, vốn văn hóa chính là cơ sở để giai cấp trung và thượng lưu  truyền bá hệ giá trị của họ. Vốn văn hóa là yếu tố chủ chốt trong sự dằng co giai cấp triền miên trong xã hội. Vốn xã hội được Bourdieu cho là toàn bộ nguồn lực xuất phát từ các mạng lưới quen biết.

Theo Bourdieu, con người là sản phẩm của lịch sử, của giai cấp. Vì thế họ có những ưu thế cũng như bất lợi mà mạng lưới quan hệ cá nhân mang lại. Theo ông, cá nhân có thể tự tích lũy vốn văn hóa và vốn kinh tế song không ai có thể tự xây dựng vốn xã hội. Chính sự thiếu vốn xã hội là nguyên nhân khiến một số cá nhân chịu những bất công trong xã hội.

Trong một bài phân tích về vốn xã hội (1988), James Coleman nhà xã hội học người Mỹ đã phân tích tính quan trọng của vốn xã hội trong việc hình thành vốn con người. Ông cho rằng vốn xã hội chính là sự tin cậy lẫn nhau của các cá nhân trong cùng một giai tầng. Nó được biểu hiện ở chỗ các cá nhân thống nhất với nhau về hành động dựa trên hệ chuẩn mực và kèm theo đó có những sự trừng phạt khi cá nhân vi phạm các chuẩn mực đó.

Đặc biệt, ông đã phân biệt vốn xã hội trong cộng đồng và trong gia đình. Theo ông, trong gia đình con cái có thể lĩnh hội vốn tài chính, vốn con người và vốn xã hội của gia đình. Vốn tài chính là nguồn của cải, thu nhập của gia đình, loại vốn này như một nguồn lực vật chất để cung cấp cho con cái những nhu cầu sống hàng ngày. Vốn con người chính là trình độ văn hóa của bố mẹ, vốn con người trong mỗi gia đình tạo dựng không gian kích thích trí tò mò, sự ham hiểu biết của con cái. Vốn xã hội chính là mức độ quan tâm, mức độ dành thời gian của cha mẹ cho con cái trong những sinh hoạt trí tuệ. Cũng tương tự như vậy, tại cộng đồng vốn xã hội cũng chính là mối liên hệ, quan tâm, chia sẻ giữa các nhóm xã hội và thiết chế xã hội. Như vậy, vốn xã hội trong gia đình và cộng đồng chính là mạng lưới xã hội của các cá nhân được đặt trên nền tảng tin cậy của con người trong xã hội.

Theo Fukuyama vốn xã hội được phát sinh một cách ngẫu nhiên và đó là kết quả của các mối tương tác được lặp đi, lặp lại. Tuy nhiên, những mối tương tác này chỉ hữu dụng và tích cực khi nó được đặt trong sự tin cẩn lẫn nhau giữa các thành viên của cộng đồng cùng tham gia vào các mối quan hệ này. Đối với ông, niềm tin của cá nhân, nhóm trong xã hội có thể có những tác động lớn hơn đến các lĩnh vực mà bản thân cá nhân và nhóm cũng không thể lường hết được.

2. Mối quan hệ trong nghiên cứu sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình và vốn xã hội

Trong lý thuyết thực hành, Bourdieu luôn nhấn mạnh vai trò của nhân tố văn hóa, coi nó là nguồn lực tác động đến quá trình các cá nhân chiếm giữ những vị trí trong không gian xã hội. Theo Bourdieu, giống như vốn kinh tế, vốn văn hóa có thể được tích lũy và hoán cải thành các loại vốn khác. Trong nghiên cứu, ông luôn xem xét cách thức mà vốn văn hóa có thể tạo nên những ưu thế hay kém ưu thế của nhóm này so với nhóm khác. Do vậy, khi phân tích quá trình kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình cần lưu ý vốn văn hóa của gia đình, cách gia đình dạy dỗ con cái là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cách ứng xử của cá nhân, do đó cũng ảnh hưởng đến cơ hội sống của họ sau này.

Các nghiên cứu trước đây đều chỉ ra, việc một cá nhân đạt được vị trí nhất định trong xã hội phụ thuộc vào các đặc điểm của cá nhân họ. Nhưng những đặc điểm cá nhân này lại bị quy định, bị ảnh hưởng bởi lĩnh vực hoạt động hay những tập tính của các cá nhân. Điều này liên quan đến nguồn gốc xuất thân và hoàn cảnh sống của mỗi cá nhân.

Trình độ học vấn của mỗi cá nhân chịu sự chi phối bởi những yếu tố như: nguồn gốc xuất thân, hoàn cảnh sống... Con số thống kê ở Việt Nam cho thấy, trên thực tế chỉ có một bộ phận nhỏ, chưa đến 0,5% số thanh niên xuất thân từ nhóm 20% gia đình nghèo nhất được vào đại học. Đây có thể là minh chứng cho sự phân phối không đồng đều của cải trong xã hội phân tầng, khiến cho kẻ có của, có đặc quyền được hưởng dễ dãi trong giáo dục để phát triển tài năng, trong khi cùng lúc đó khiến cho kẻ dưới đáy bị bất lợi.

Trong những năm qua, Việt Nam có nhiều nghiên cứu về cơ cấu giai cấp, về phân tầng xã hội. Các nghiên cứu đều chỉ ra nguyên nhân của bất bình đẳng xã hội nhưng phần lớn chỉ liệt kê những rủi ro mà các cá nhân có thể gặp phải mà chưa chú ý đến nguyên nhân sâu xa của bất bình đẳng xã hội. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu về sự kế thừa nghề nghiệp chúng ta cần quan tâm phân tích quá trình, trong đó các cá nhân, nhóm có thể chuyển giao những ưu thế và bất lợi xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong xã hội Việt Nam đương đại, khi các tầng lớp đang có xu hướng đi vào ổn định, nghĩa là độ mở của các tầng lớp đang thu hẹp thì cơ hội để những người ở tầng lớp dưới di động đi lên ngày càng khó khăn và sự kế thừa nguồn lực giữa các thế hệ càng lớn.

Một chỉ dẫn khá lý thú trong lý thuyết của Bourdieu về di động xã hội, chính là vị trí của mỗi cá nhân chịu sự tác động của những động cơ mang tính giai cấp. Các cá nhân luôn có ý thức về tầng lớp của mình, vì thế họ luôn luôn có ý thức để thoát khỏi hay bảo vệ vị trí xã hội đó. Trong xã hội Việt Nam hiện nay đang xuất hiện cả hai xu hướng này. Chẳng hạn, khi nghiên cứu về định hướng nghề nghiệp cho con cái, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra có một xu hướng chung là người nông dân định hướng cho con cái của họ thoát khỏi nông nghiệp. Như vậy, những người nông dân không muốn con cái của họ duy trì địa vị xã hội của mình.

Đặng Cảnh Khanh khi nghiên cứu về nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số đã chỉ ra, “có những người thờ ơ với công việc có nguồn thu nhập cao và ổn định bởi thích lối sống tự do, phóng khoáng, không muốn ràng buộc bởi quy luật khắt khe của kỷ luật lao động”. Như vậy, rõ ràng vấn đề lao động và việc làm không chỉ phụ thuộc vào tình huống thị trường như lý thuyết của Weber, mà còn phụ thuộc vào quan điểm, sở thích cũng như thói quen (cái mà Bourdieu gọi là habitus). Có thể những nhân tố này rất dễ bị bỏ qua khi nghiên cứu về sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ, đặc biệt khi chúng ta quá nhấn mạnh đến những đặc điểm như: giới tính, trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp. Vì vậy, khi nghiên cứu về sự kế thừa nghề nghiệp chúng ta không thể bỏ qua những động cơ, thói quen mang tính tầng lớp, các nhân tố có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến địa vị xã hội của mỗi cá nhân hay nhóm. Bourdieu chỉ ra: vị trí của mỗi cá nhân chiếm giữ phụ thuộc vào lượng vốn, loại vốn và cách thức di động của mỗi cá nhân, nhưng ông cũng nhấn mạnh tác động của các yếu tố như: nguồn gốc tầng lớp, đặc trưng của tầng lớp, khuôn mẫu hay động cơ của tầng lớp tác động đến lượng, loại vốn hay con đường di động, kế thừa của mỗi cá nhân hay nhóm.

Không chỉ trong quan điểm về vốn xã hội của Bourdieu, quan điểm về vốn xã hội của Coleman và Putnam cũng phản ánh sự ảnh hưởng của vốn xã hội đến sự kế thừa nghề nghiệp của thế hệ con cái với thế hệ cha mẹ. Quan điểm về vốn xã hội của Coleman và Putnam đều nhấn mạnh đến mạng lưới xã hội được tạo dựng dựa trên sự tin cậy lẫn nhau của các cá nhân trong cùng một giai tầng.

Cụ thể, Coleman cho rằng: ở những gia đình có nguồn vốn tài chính tốt hơn thì con cái của họ có cơ hội được hưởng những điều kiện sống tốt hơn so với những người có xuất thân từ gia đình có nguồn vốn tài chính hạn hẹp. Như vậy, những người con được sinh ra trong gia đình có nguồn vốn tài chính tốt sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc làm giàu vốn tri thức, hiểu biết bằng việc điều kiện để có thể tham gia nhiều lớp học hoặc các lớp học có chất lượng cao… Vì vậy, họ có cơ hội di động đến những vị trí nghề nghiệp cao hơn hoặc kế thừa được những nhóm nghề nghiệp mà cha mẹ họ đang đảm nhận. Ông cũng cho rằng trong các gia đình chính trình độ văn hóa của bố mẹ quy định nên việc bố mẹ sẽ tạo dựng được những mảng không gian kích thích sự học hỏi và tìm tòi của con cái. Điều này cho thấy, ở các gia đình khác nhau sẽ có những mảng không gian kích thích con cái học hỏi và tìm tòi khác nhau. Những mảng không gian này gồm các kỹ năng nghề nghiệp mà cha mẹ vô hình hoặc hữu hình đã truyền lại cho con cái. Vì vậy, con cái sẽ có cơ hội kế thừa những nhóm nghề nghiệp mà cha mẹ đang đảm nhiệm.

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu nhận thấy các cá nhân trong quá trình lựa chọn và tìm kiếm việc làm đều vận dụng những mạng lưới xã hội của cá nhân và gia đình. Ngoài ra, những nguồn lực khác như: vốn văn hóa, vốn kinh tế, vốn con người của gia đình và cá nhân cũng được vận dụng một cách triệt để. Do vậy, việc sử dụng vốn xã hội của các cá nhân có ảnh hưởng lớn đến sự lựa chọn và hoạt động tìm kiếm nghề nghiệp của họ. Điều này cho thấy, mức độ quan trọng trong việc nghiên cứu vốn xã hội khi đánh giá sự kế thừa nghề nghiệp hoặc di động nghề nghiệp của thế hệ con cái so với thế hệ cha (mẹ).

Sau khi phân tích định nghĩa, cách giải thích khác nhau của các tác giả về vốn xã hội thì chúng ta có thể thấy một số nét chung trong quan điểm: vốn xã hội gắn liền với mạng lưới xã hội, quan hệ xã hội; xem vốn xã hội như một nguồn lực xã hội; vốn xã hội được tạo ra thông qua việc đầu tư vào các quan hệ xã hội, hoặc mạng lưới xã hội và cá nhân có thể sử dụng vốn xã hội để tìm kiếm lợi ích; vấn đề sự tin cậy và quan hệ qua lại/sự có đi - có lại.

Bên cạnh những luận điểm chung, thống nhất, các nhà nghiên cứu cũng có các quan niệm khác nhau khi định nghĩa vốn xã hội. Trong khi Bourdieu (1986) cho rằng vốn xã hội là toàn bộ nguồn lực xuất phát từ mạng lưới xã hội tương đối bền vững của các cá nhân, gia đình, tập thể; Coleman (1988) lại khẳng định vốn xã hội cũng là những mạng lưới quan hệ xã hội của các cá nhân được hình thành trên cơ sở sự tin cậy của con người với nhau trong mạng lưới của họ; còn Putnam (2000) quan niệm vốn xã hội bao gồm các mạng lưới xã hội, chuẩn mực của quan hệ trao đổi qua lại và sự tin cẩn...

Tuy có những điểm khác biệt và thống nhất trong quan điểm về vốn xã hội, nhưng các nhà khoa học đều đánh giá vai trò của vốn xã hội với sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình. Trong quan điểm của mình, các nhà khoa học đều chỉ rõ ảnh hưởng quan trọng của vốn xã hội đến việc ổn định vị trí việc làm giữa các thế hệ, cơ hội kế thừa hoặc di động đến các vị trí nghề nghiệp cao hơn hoặc cũng chỉ ra những nhân tố trong vốn xã hội có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự kế thừa hoặc di động nghề nghiệp giữa con cái và cha mẹ.


Nguồn : Tạp chí VHNT số 397, tháng 7 - 2017

Tác giả : NGUYỄN THỊ LÝ

Ý kiến bạn đọc

Loading.....

(Vui lòng điền đầy đủ thông tin và gõ nội dung bằng tiếng Việt có dấu)

Bài viết liên quan