Tự sự về giới và quyền lực trong tiểu thuyết Cây không gió và Mảnh đất lắm người nhiều ma


Dựa trên lý thuyết về “chính trị giới tính” của Kate Millett, bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu song song giữa hai tác phẩm không có quan hệ ảnh hưởng: tiểu thuyết Cây không gió (1996) của Lý Nhuệ và Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990) của Nguyễn Khắc Trường nhằm chỉ ra tính chất liên đới giữa giới và quyền lực, cách cơ thể nữ giới hiện lên qua điểm nhìn của các nhà văn nam, các biểu hiện phục tùng và phản kháng của nhân vật nữ trong bối cảnh xã hội phụ hệ hậu thuộc địa.

Ngay từ thuở sơ khai của văn hóa phương Tây và phương Đông, hai giới nam và nữ đã được nhìn qua cấu trúc đối lập nhị phân như: mạnh/ yếu, chủ động/ bị động, logic/ phi lý… Sự phân biệt và định giá như vậy dần dần hình thành một loại diễn ngôn quyền lực phổ biến trong xã hội: từ thời nguyên thủy đến thời hiện đại, những ý tưởng hình thành nên văn hóa của nữ giới bao giờ cũng do nam giới thiết kế. Vì thế, hình ảnh người phụ nữ như lâu nay vốn có là do đàn ông tạo ra và được xây dựng phù hợp với nhu cầu của họ. Sự áp đảo của diễn ngôn trên đã cho phép nam giới vĩnh viễn sở hữu một vị trí thuận lợi trong khi phụ nữ được xem như là một “kẻ khác” bị/ được kiến tạo, được viết ra hoặc nói đến bởi nam giới (constructedness). Thực tế này đã được Dale Spender khái quát trong cuốn sách nổi tiếng Đàn ông tạo ra ngôn ngữ (Man made language): ngôn ngữ không phải là một phương tiện trung lập mà như một công cụ thể hiện cho chế độ phụ quyền. Dưới quyền lực thống trị của chủ nghĩa trung tâm dương vật (phallogocentrism), phụ nữ đại diện cho một vị thế chủ thể đã bị lưu đày ra bóng tối bên ngoài.

Đây là sản phẩm trực tiếp của “phong trào phụ nữ” những năm 60 của thế kỷ trước, phê bình văn học nữ quyền (feminist literary criticism) nỗ lực khẳng định tầm quan trọng của hình ảnh phụ nữ trong văn học, xem văn học như là cách thức để chất vấn diễn ngôn quyền lực nam giới, đồng thời, chỉ ra những giới hạn lẫn thiên kiến trong cách hình dung về phụ nữ thông qua việc “đọc lại” những tác phẩm của các nhà văn nam (androtext). Ở giai đoạn đầu của phê bình văn học nữ quyền, công trình Chính trị giới tính (Sexual Politics) 1969 của Kate Millett là một trong những nghiên cứu kinh điển.

Trong cuốn sách của mình, Millet đã sử dụng khái niệm phụ quyền (patriarchy: sự cai trị của người cha) để mô tả nguyên nhân của việc phụ nữ bị áp bức. Theo Millett, chế độ phụ quyền làm giống cái lệ thuộc vào giống đực. Quyền lực được thi triển trực tiếp hoặc gián tiếp trong đời sống dân sự và gia đình nhằm chế ngự người phụ nữ. Việc thi triển những vai trò của “giới” trong mối quan hệ bất bình đẳng về thống trị và phụ thuộc giữa nam và nữ được Millett gọi là: “chính trị về giới tính” (sexual politics). Khi phân tích quan hệ giới từ góc độ chính trị và quyền lực, Millett nhấn mạnh rằng quan hệ giữa hai giới là quan hệ thống trị và bị trị, tức là nam thống trị nữ. Điều này đã trở thành hệ tư tưởng phổ biến nhất trong nền văn hóa nhân loại, là hiện thân của khái niệm quyền lực cơ bản: “tình hình giữa hai giới hiện nay và trong suốt lịch sử, là một trường hợp của hiện tượng được Max Weber định nghĩa là herrschaft – một mối quan hệ giữa thống trị và phụ thuộc”, “nam giới thống trị nữ giới” (males rule females) (1).

Từ những gợi ý của Kate Milett, bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu song song giữa hai tác phẩm không có quan hệ ảnh hưởng: tiểu thuyết Cây không gió của Lý Nhuệ và Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường. Lý thuyết về “chính trị giới tính” được chúng tôi vận dụng nhằm phân tích tính chất liên đới giữa giới và quyền lực, cách cơ thể nữ giới hiện lên qua điểm nhìn của các nhà văn nam, sự tồn tại của nhân vật nữ – bao gồm các biểu hiện phục tùng và phản kháng của họ trong bối cảnh xã hội phụ hệ hậu thuộc địa.

Thân thể nữ như một “vật trao đổi”

Millett nhận định: “Bản chất của chính trị giới tính là quan hệ quyền lực, chủ yếu bao gồm hai chiều hướng là áp bức và phản kháng. Trong lịch sử lâu dài, phụ nữ phụ thuộc vào nam giới về kinh tế, tính cách của họ phụ thuộc vào nam giới và họ phải phục tùng nam giới trong hầu hết mọi việc. Kiểu phụ nữ này cũng có những biểu hiện rõ ràng trong văn học: phụ nữ bị gạt ra ngoài lề xã hội, tức là các quyền và địa vị của phụ nữ bị áp bức, bị từ chối và bị phớt lờ” (2). Chính trị giới tính được thể hiện thông qua việc các nhà văn nam nói một cách có ý thức hoặc vô thức với tư thế của một kẻ “thống trị” trước hình tượng người phụ nữ mà họ xây dựng, đồng thời hình tượng nữ trở thành phương tiện thể hiện tinh thần và lý tưởng thẩm mỹ của nam giới. Trong Mảnh đất lắm người nhiều maCây không gió, mẫu hình phụ nữ phụ thuộc và phục tùng (tức “bị nam giới thống trị”) vẫn tiếp tục được triển khai như một sự nối dài mẫu hình phụ nữ trong truyền thống văn học nam quyền. Dễ dàng nhận ra những miêu tả về thân thể nữ từ điểm nhìn nam giới và cách đàn ông nhìn cơ thể phụ nữ từ điểm nhìn của các nhà văn nam trong hai thiên truyện. Bản thân phương thức tự sự này đã bộc lộ tính bất đối xứng cơ bản giữa “nam tính” và “nữ tính”, cái “nữ tính” bị siết chặt vào trong một mối quan hệ với đàn ông đồng thời phô diễn một ý thức hệ về sự phục tùng.

Cùng nằm trong một ngữ cảnh văn hóa, “tình dục” – một phạm trù gắn liền với thân thể – luôn có mối liên kết chặt chẽ với vấn đề giới và những tương quan quyền lực xã hội, giai cấp và chủng tộc. Do đó, nếu như thân thể là sản phẩm của một công cuộc kiến tạo mang tính xã hội, thì “tình dục” trở thành một biểu hiện điển hình của quan hệ quyền lực, tức là trải nghiệm bi thảm của thân thể phụ nữ được phản ánh thông qua việc nhà văn viết về tình dục. Mảnh đất lắm người nhiều ma tập trung khắc họa mâu thuẫn quyền lực giữa hai dòng họ lớn ở làng xã trong một xã hội hậu thuộc địa: họ Trịnh (đứng đầu là Trịnh Bá Hàm, Trịnh Bá Thủ) và họ Vũ (đại diện là Vũ Đình Phúc). Bà Son, nhân vật nữ trong chuyện, là nạn nhân của sự tranh chấp giữa hai thế lực. Trước và sau hôn nhân, bà Son bị chồng xem như một “vật sở hữu”, một thứ “hàng hóa”, là “đối tượng tình dục” và “công cụ sinh sản”. Bà chấp nhận cuộc hôn nhân để giữ thể diện cho gia đình mình; cắn răng phục vụ chồng vì nghĩa vụ và những thỏa thuận tiền hôn nhân; chấp nhận làm theo những kế hoạch mang tính “chính trị” để phục vụ cho quyền lợi của dòng họ nhà chồng. Thân thể bà Son bị trưng bày săm soi dưới con mắt của gần như tất cả các nhân vật nam trong truyện: đối với chồng là Trịnh Bá Hàm: “Hàm nổi cơn lôi đình, giật tung chiếc chăn trên người Son. Cả cái khối ngọc ngà như trứng bóc, như đá tạc trắng lóa dưới ánh đèn… Hàm rút phắt tay thước quất hai cái như trời giáng xuống cặp đùi thon mịn như bột lọc”; trước mặt nhân tình cũ là Vũ Đình Phúc: “nhìn lom lom vào đôi vai tròn trịa của bà Son đang rung lên trong tiếng nấc”; thậm chí trong suy nghĩ thô bỉ của Cao – cháu họ bên chồng – kẻ thông đồng với Trịnh Bá Thủ làm hại bà Son: “cái bà này lạ thật, tuổi tác như thế mà vú vê vẫn thây lẩy, chứ không như vợ mình”. Trong xã hội phụ quyền, “mỗi dòng họ như là một hệ thống chính trị độc lập, và những cạnh tranh dòng họ như là biểu hiện của các quan hệ bên ngoài” (D.Easton). Ở đấy, đàn ông giữ vị trí tối thượng, đại diện và nắm giữ quyền lực. Do đó, cách phụ nữ nhìn nhận mình trong mối quan hệ với nam giới là cách của một kẻ bị trị nhìn kẻ thống trị và nhìn bản thân từ chính điểm nhìn của kẻ thống trị, họ “thừa nhận quyền thống trị của đàn ông” (Millett) trong “mối quan hệ tuyệt đối nhị phân giữa kẻ thống trị và kẻ bị trị” (Foucault). Nhân vật bà Son điển hình cho “tính vô nghĩa lịch sử” của người phụ nữ, là kết quả của một hệ thống thâm căn cố đế được duy trì bởi thể chế gia trưởng.

Mặt khác, thiên tiểu thuyết này khắc họa rất sâu sắc bản chất của chế độ phụ hệ mà theo Millett – hạt nhân của nó là “gia đình”: “tổ chức chính của chế độ phụ hệ là gia đình. Nó vừa là tấm gương phản chiếu vừa là sự kết nối với xã hội rộng lớn hơn; là một đơn vị phụ hệ trong một tổng thể phụ hệ. Giữ vai trò trung gian giữa cá nhân và cấu trúc xã hội, gia đình kiểm soát và tuân thủ khi các cơ quan chính trị và các cơ quan chức năng khác còn thiếu” (3). Điều này đặc biệt đúng khi soi chiếu vào mâu thuẫn kép của bối cảnh câu chuyện: mâu thuẫn quyền lực giữa các dòng họ (“chi họ Trịnh Bá đang lên, họ Vũ Đình đang xuống”) và mâu thuẫn gia đình (mâu thuẫn giới). Cả hai mâu thuẫn này đều được đẩy lên đến đỉnh điểm (ông Hàm phá mộ của bố ông Phúc và bà Son tự tử). Các nhân vật nam trong truyện như Hàm, Phúc đều là người chủ lãnh đạo gia đình (người cai trị), sai bảo các thành viên trong gia đình (kẻ bị trị) và buộc họ phải “tuân thủ”. Dạng quan hệ này là sản phẩm của Nho giáo mà đặc thù của nó là “người cha gần như toàn quyền sở hữu đối với vợ và con cái, bao gồm cả quyền lạm dụng thể chất”, “với tư cách là chủ gia đình, người cha vừa là người sinh ra vừa là chủ sở hữu trong một hệ thống mà quan hệ họ hàng là tài sản” (4). Tuy nhiên, dù ở phương Đông hay phương Tây, “trong chế độ phụ hệ nghiêm ngặt, quan hệ họ hàng chỉ được thừa nhận thông qua sự kết hợp với dòng dõi nam giới” (5). Do đó, vị trí tối cao dành cho nam giới trong các phân loại văn hóa có thể lý giải ở sự kiến tạo quan hệ thân tộc và hôn nhân – những yếu tố phân định cho phụ nữ một phận vị xã hội là “vật trao đổi” phù hợp với lợi ích của nam giới. Trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, trật tự quyền lực của nam giới trong hệ thống làng xã được xem như một thứ bất khả xâm phạm, nên hành vi phản kháng quyền lực của nhân vật Son (không chịu làm theo sắp đặt của Hàm và Thủ trong việc vu oan cho ông Phúc) chỉ có thể dẫn đến kết cục là cái chết bi thảm.

Sử dụng ngôi thứ nhất luân phiên làm chiến lược tường thuật, tiểu thuyết Cây không gió bao gồm 63 chương, trong đó có 59 chương được kể từ ngôi thứ nhất (các nhân vật trong truyện thay nhau xưng “tôi”), 4 chương còn lại được trần thuật từ ngôi kể thứ ba nhưng mượn điểm nhìn của Khổ Căn để kể chuyện. Tác giả cố ý xây dựng một hình thức trần thuật bổ sung hoặc tháo rời cùng một sự kiện khiến cấu trúc văn bản trở nên phức tạp và rời rạc. Tính chất mất cân bằng của kết cấu tường thuật thể hiện sự đối lập giữa hai kiểu diễn ngôn: diễn ngôn dân gian (Noãn Ngọc, chú Khoèo, Thiên Trụ, chị Ngố) và diễn ngôn chính trị (chủ nhiệm Lưu, Khổ Căn). Là người duy nhất có thân hình đẹp đẽ và lành lặn trong ngôi làng toàn người khuyết tật, Noãn Ngọc trở thành “tài sản chung” của tất cả những người đàn ông nơi đây: “trợ cấp cho cô Ngọc, nuôi dưỡng cô Ngọc là do cánh đàn ông thôn Người Lùn tự nguyện” (6). Trong khi đó, chủ nhiệm Lưu – một người luôn dùng quyền lực áp đặt lên thôn người Lùn lại muốn độc chiếm cô làm của riêng. Cũng như cách Nguyễn Khắc Trường miêu tả bà Son, thân thể của Noãn Ngọc trong Cây không gió được tri giác bằng con mắt của các nhân vật nam và thấm nhuần các phạm trù của nam giới: chẳng hạn, qua cái nhìn thô tục của chủ nhiệm Lưu Trường Thắng: “cậu có biết cái đùi nần nẫn này thi vị thế nào không hả?”; qua ý nghĩ của Khổ Căn “đôi vú trắng phau chợt hiện lên, khiến Khổ Căn mặt đỏ như gấc chín”; và qua cảm xúc của những người đàn ông trong làng: “Giường của Ngọc ấm ơi là ấm, thân thể Ngọc còn ấm hơn”. Cơ thể của Noãn Ngọc trở thành “vật trao đổi”: cô tự bán mình cho thôn Người Lùn để đổi lấy một bao gạo cứu sống gia đình, chấp nhận phục vụ tất cả những người lùn trong làng. Bù lại, “sự phóng đãng của cô Ngọc được bảo vệ dưới cái ô chắc chắn và kín đáo của đám đàn ông”, họ “để cô làm những việc nhẹ nhàng nhất”, “ghi công điểm cho cô cao nhất”. Những phân đoạn miêu tả cảnh quan hệ giữa Lưu chủ nhiệm với Noãn Ngọc hay những đoạn miêu tả cảnh gần gũi giữa bà Son và chồng càng cho thấy rõ luận điểm mà Pierre Bourdieu đã nhắc đến: “Quan hệ tình dục xuất hiện như một quan hệ thống trị mang tính xã hội” vì nó được kiến tạo thông qua nguyên tắc phân chia căn bản giữa nam tính (chủ động) và nữ tính (thụ động), trong đó “bản thân hành vi tính dục được đàn ông quan niệm như một hình thức thống trị, chiếm hữu” (7).

Trật tự phân chia giới tính và thần thoại Pandora về nguồn gốc tội lỗi

Giới được kiến tạo như hai thực thể xã hội, xếp đặt theo trật tự đẳng cấp (8) dẫn tới việc phân bổ không gian tồn tại cho nam và nữ. Đàn ông có địa vị cao hơn chiếm vị trí rộng rãi và ở trung tâm (nhà ngoài, phòng họp), trong khi phụ nữ chịu địa vị thấp hơn phải lui về một vị trí xa và chật chội (căn bếp, gian buồng). Ở Mảnh đất lắm người nhiều ma, những miêu tả dành cho nhân vật Son thường gắn với không gian bếp, buồng. Đồng thời, địa điểm nhân vật tự tử – “nơi giáp bờ sông” – cũng là một không gian nằm ngoài trung tâm. Sự đối lập về không gian vật lý này không chỉ tượng trưng cho sự phân chia trật tự giới tính mà còn ẩn dụ cho khoảng cách vĩnh viễn giữa nhân vật Son và chồng. Nguyên tắc gia trưởng áp đặt lên các chuẩn mực giới tính trong không gian đã ăn sâu vào tâm thức nhân vật Son, hướng dẫn mọi hành vi mang tính quy thức hóa của cơ thể bà (“bà Son vặn to ngọn đèn ba dây treo giữa nhà rồi thu vội đống quần áo, con cón đi xuống bếp”, “hai mẹ con lẳng lặng đi làm theo sự phân công của ông lãnh chúa”). Tính xã hội của loại hành vi này đã từng được Judith Butler chỉ ra trong thuyết “Biểu hiện phái tính” (Gender Performativity): “Phái tính là một thực hành suy diễn, qua đó nó thiết lập một diện mạo cho sự cố định của chính nó” (9). Cách phân bổ không gian theo giới tính mặc định người phụ nữ phải ở trong những không gian bó hẹp và ngoại vi, khiến cho việc đến gần một không gian nam giới trị (chẳng hạn: nơi hội họp) trở thành một thử thách lớn – điều này cũng lý giải cho tâm lý “tự bài trừ mình khỏi không gian quảng trường” của nữ giới mà Bourdieu đã nói đến (10). Do vậy, việc nhân vật nữ thoát khỏi quy tắc giới tính trong không gian đồng nghĩa với một biến cố tất yếu sẽ xảy đến ở tương lai. Trong Cây không gió, khi Noãn Ngọc tham gia cuộc họp phổ biến lập trường giai cấp, cô không rót nước cho Khổ Căn theo lệnh của chủ nhiệm Lưu mà “đi đến chỗ xó nhà” đưa cho chú Khoèo. Hành động này của Noãn Ngọc khắc sâu thêm tam giác mâu thuẫn vốn có giữa chủ nhiệm Lưu và những người đàn ông trong làng: mâu thuẫn giai cấp (thống trị – bị trị), quyền lực (mạnh – yếu, bình thường – khuyết tật) và tài sản sở hữu (Noãn Ngọc) – hệ quả là cái chết của chú Khoèo ở chương 23.

Bên cạnh đó, có thể đọc ra được bóng dáng của huyền thoại Pandora trong hai thiên tiểu thuyết. Theo Millett, Pandora là huyền thoại về “chủng tộc đáng nguyền rủa của phụ nữ – một bệnh dịch mà đàn ông phải sống chung” (11), một trong hai nguyên mẫu quan trọng của truyền thống phụ hệ phương Tây lên án người phụ nữ bởi tội lỗi nguyên thủy mà họ đã gây ra cho loài người. Thần thoại Pandora giải thích rằng phụ nữ là nguồn gốc của tất cả tệ nạn của xã hội và nguyên nhân trực tiếp tạo nên tội lỗi của loài người là “sản phẩm độc nhất của cô ấy, tình dục” (12). Bị chi phối bởi cảm thức Pandora, người phụ nữ được hình dung như biểu tượng của tội lỗi, sự cám dỗ, nguy hiểm và tệ nạn. Bà Son được xem như là nguyên nhân khiến cho mâu thuẫn giữa hai dòng họ Vũ, Trịnh càng thêm sâu sắc. Còn Noãn Ngọc trong hình dung của Khổ Căn là một “người đàn bà phóng đãng”: “Khổ Căn bảo, đây là con yêu tinh”, “Khổ Căn nhanh chóng phát hiện cô Ngọc là loại phụ nữ chẳng giống ai, chồng đã chết nhưng cô quan hệ rất mật thiết với tất cả những người độc thân trong thôn”. Nhìn chung, tâm thức giới luôn có ảnh hưởng đến sáng tác của các nhà văn dù là vô thức hay ý thức. Điểm khác biệt nằm ở mức độ nhân văn trong cách tác giả miêu tả hoặc giải quyết vấn đề và khả năng của họ trong việc thoát khỏi những quan điểm rập khuôn về giới tính.

Bị chế ngự bởi một vũ trụ luận xem nam giới là trung tâm, những miêu tả về “cơ thể phụ nữ” trong văn học càng làm nổi bật lên vấn đề bình đẳng giới ở xã hội phụ hệ. Có thể tìm thấy nhiều những yếu tố chính trị trong những miêu tả về cơ thể phụ nữ trong văn chương. Điều này giải thích vì sao chủ nghĩa hậu thuộc địa lại gần như ra đời và phát triển song song với lý thuyết nữ quyền, và vì sao “phong trào phụ nữ” những năm 60 lại mang tính văn học ngay từ đầu. Việc phân tích hai tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều maCây không gió theo phương pháp so sánh cận kề có thể giúp người đọc hiểu rõ hơn những hình dung về phụ nữ trong văn học của nam giới, các mối quan hệ quyền lực tồn tại trong văn bản và cuộc sống. Nhìn rộng hơn, như một đề xuất của Peter Barry (13), cách đọc này còn có ý nghĩa như một hành vi chính trị nhằm phá vỡ những quy phạm về căn tính giới đã được thiết lập dựa trên chế độ phụ quyền (14).

________________________

1, 2, 3, 4, 5, 6, 11, 12. Kate Millett, Sexual Politics (Chính trị giới tính), University of Illinois Press, 2000, tr.24, 23, 33, 33, 33-34, 24, 51, 51.

7, 8, 10. Pierre Bourdieu, Sự thống trị của nam giới, Lê Hồng Sâm dịch, Nxb Tri thức, 2017, tr.23, 27, 56.

9. Judith Butler, Performativity, Precarity and Sexual Politics (Biểu hiện, trạng thái bấp bênh và chính trị giới tính), tập 4, AIBR, aibr.org, 2009.

13. Peter Barry, Beginning Theory: An Introduction to Literary and Cultural Theory (Lý thuyết sơ cấp: Giới thiệu về lý thuyết văn học và văn hóa), Manchester University Press, 1995.

14. Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) trong đề tài mã số 602.06-2020.300.

Tài liệu tham khảo

1. Michel Foucault, The History of Sexuality, Volume I: An Introduction, (Lịch sử về giới tính, tập 1: Phần giới thiệu), Pantheon Books, Hoa Kỳ, 1978.

2. Lý Nhuệ, Cây không gió, Trần Đình Hiến dịch, Nxb Văn học, 2004.

3. Lý Nhuệ, Vô phong chi thụ, Nxb Văn nghệ Giang Tô, Trung Quốc, 1996.

4. Nguyễn Khắc Trường, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nxb Hội Nhà văn, 2002.

5. Xiao Zhou, Virginity and premarital sex in contemporary China, Feminist Studies (Trinh tiết và quan hệ tình dục trước hôn nhân ở Trung Quốc đương đại), tập 15, số 2, The Problematics of Heterosexuality, 1989.

TS NGUYỄN THỊ THÚY HẠNH

Nguồn: Tạp chí VHNT số 485, tháng 1-2022

Đánh giá post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.